THÔNG ĐIỆP FRATELLI TUTTI
VỀ TÌNH HUYNH ĐỆ VÀ TÌNH BẰNG HỮU XÃ HỘI
HĐGMVN - 29/04/2021
Thông điệp Fratelli Tutti về tình huynh đệ và tình bằng hữu xã hội.
“Fratelli tutti” (Hỡi tất cả anh em): Thánh Phanxicô Assisi đã viết
như thế khi ngỏ lời với các anh chị em của mình nhằm đề nghị
một lối sống mang hương vị Tin Mừng.
THÔNG ĐIỆP FRATELLI TUTTI
VỀ TÌNH HUYNH ĐỆ
VÀ TÌNH BẰNG HỮU XÃ HỘI
Chuyển ngữ: Nhóm Dịch thuật HĐGMVN
+ Mục Lục
*
KHÔNG BIÊN GIỚI
CHƯƠNG MỘT: BÓNG TỐI CỦA MỘT THẾ GIỚI KHÉP KÍN
*
NHỮNG GIẤC MƠ TAN VỠ
Tận kết của ý thức lịch sử
* THIẾU KẾ HOẠCH CHO MỌI NGƯỜI
Một thế giới “thải bỏ”
Nhân quyền không đủ phổ quát
Xung đột và sợ hãi
*
TOÀN CẦU HÓA VÀ SỰ TIẾN BỘ KHÔNG CÓ LỘ TRÌNH
CHUNG
* CÁC ĐẠI DỊCH VÀ CÁC THẢM HỌA KHÁC TRONG LỊCH
SỬ* KHÔNG CÓ NHÂN PHẨM TẠI CÁC BIÊN GIỚI
ẢO TƯỞNG TRUYỀN THÔNG
Hung hăng vô liêm sỉ
Thông tin thiếu khôn ngoan
*
CÁC HÌNH THỨC LỆ THUỘC VÀ TỰ TI
NIỀM HY VỌNG
CHƯƠNG HAI: MỘT NGƯỜI XA LẠ TRÊN ĐƯỜNG
Bối cảnh
Người bị bỏ rơi
Một câu chuyện được tái diễn
Các nhân vật
Bắt đầu lại
Người thân cận không kể biên giới
Lời kêu van của người khách lạ
CHƯƠNG BA: DỰ PHÓNG VÀ KIẾN TẠO MỘT THẾ GIỚI
MỞ
* VƯỢT KHỎI CHÍNH MÌNH
Giá trị vô song của tình yêu
*
TÌNH YÊU MỞ RỘNG
Xã hội mở có khả năng dung nạp mọi người
Những cách hiểu không đúng về tình yêu phổ quát
*
VƯỢT KHỎI THẾ GIỚI CỦA CÁC ĐỐI TÁC
Tự do, bình đẳng và huynh đệ*
TÌNH YÊU PHỔ QUÁT THĂNG TIẾN CON NGƯỜI
*
CỔ VÕ SỰ THIỆN LUÂN LÝ
Giá trị của tình liên đới
*
XEM LẠI VAI TRÒ XÃ HỘI CỦA TÀI SẢN
Các quyền không biên giới
Quyền của các dân tộc
CHƯƠNG BỐN: MỘT TRÁI TIM MỞ RA CHO TOÀN THẾ
* GIỚI HẠN CỦA CÁC BIÊN GIỚI
* NHỮNG QUÀ TẶNG CHO NHAU
Một sự trao đổi đầy hoa trái
Sẵn sàng đón tiếp vô điều kiện
* ĐỊA PHƯƠNG VÀ TOÀN CẦU
Sắc thái địa phương
Chân trời phổ quát
Bắt đầu từ chính khu vực của mình
CHƯƠNG NĂM: MỘT NỀN CHÍNH TRỊ TỐT ĐẸP HƠN
* CÁC HÌNH THỨC CHỦ NGHĨA DÂN TÚY VÀ CHỦ NGHĨA
TỰ DO
“Thuộc về dân” hay “dân túy”
Các lợi điểm và giới hạn của những quan điểm tự do
*
QUYỀN LỰC QUỐC TẾ
*
BÁC ÁI XÃ HỘI VÀ CHÍNH TRỊ
Nền chính trị chúng ta cần
Đức bác ái chính trịĐức bác ái hữu hiệu
*
THỰC THI ĐỨC BÁC ÁI CHÍNH TRỊ
Những hy sinh phát xuất từ đức bác ái
Một tình yêu dung hợp và liên kết
*
COI TRỌNG HOA TRÁI TÌNH YÊU HƠN SỰ THÀNH CÔNG
CHƯƠNG SÁU: ĐỐI THOẠI VÀ TÌNH BẰNG HỮU XÃ HỘI
* ĐỐI THOẠI XÃ HỘI
ĐỂ XÂY DỰNG MỘT NỀN VĂN HÓA MỚI
Cùng nhau xây dựng
*
NỀN TẢNG CỦA VIỆC ĐỒNG THUẬN
Sự đồng thuận và sự thật
*
MỘT NỀN VĂN HÓA MỚI
Gặp gỡ trở thành văn hóa
Niềm vui khi nhìn nhận người khác
*
TRỞ LẠI LÀM NGƯỜI TỬ TẾ
CHƯƠNG BẢY: NHỮNG LỘ TRÌNH GẶP GỠ
*
BẮT ĐẦU LẠI TỪ SỰ THẬT
*
XÂY DỰNG HOÀ BÌNH THEO KHOA KIẾN TRÚC VÀ KIỂU
THỦ CÔNG
Bắt đầu với những người thấp kém nhất
*
GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA CỦA THA THỨ
Xung đột không thể tránh
Đấu tranh chính đáng và sự tha thứ
Sự vượt thắng thực sự*
KÝ ỨC
Tha thứ nhưng không quên
*
CHIẾN TRANH VÀ ÁN TỬ HÌNH
Sự bất công của chiến tranh
Án tử hình
CHƯƠNG TÁM: CÁC TÔN GIÁO PHỤC VỤ TÌNH HUYNH
ĐỆ TRONG THẾ GIỚI CHÚNG TA
*
NỀN TẢNG TỐI HẬU
Một ngôi nhà luôn mở rộng cửa
Căn tính Kitô giáo
*
TÔN GIÁO VÀ BẠO LỰC
Lời kêu gọi khẩn khoản
Kinh nguyện dâng lên Đấng Hóa Công
Kinh nguyện đại kết
1. “Fratelli tutti”[1] (Hỡi tất cả anh em): Thánh Phanxicô Assisi
đã viết như thế khi ngỏ lời với các anh chị em của mình nhằm
đề nghị một lối sống mang hương vị Tin Mừng. Tôi muốn nhấn
mạnh đến một trong những lời khuyên của ngài, qua đó ngài
kêu gọi phải có một tình yêu vượt khỏi các rào cản địa lý và
không gian. Ngài bảo: hạnh phúc cho ai biết yêu người “dù
người ở xa cách hay gần bên”[2]. Với những lời lẽ đơn sơ này,
ngài diễn tả bản chất của mối tình huynh đệ cởi mở, cho phép
nhìn nhận, tôn trọng và yêu mến mỗi người, dù về mặt thể lý họ
không ở gần, hay dù cho họ sinh ra hay sống ở đâu đi chăng
nữa.
2. Chính vị thánh của tình huynh đệ, của sự giản dị và niềm vui
này, đã từng truyền cảm hứng để tôi viết Thông điệp Laudato Si',nay lại thúc đẩy tôi viết tiếp Thông điệp mới này, về chủ đề tình
huynh đệ và tình bằng hữu xã hội. Thật vậy, thánh Phanxicô
không những cảm thấy mình là anh em với mặt trời, biển khơi
và các ngọn gió mà còn biết nối kết hơn nữa với những gì đã
làm nên xác thân của mình. Ngài đã gieo vãi niềm an bình ở
khắp nơi, đồng thời sống cận kề những người nghèo khó,
những người bị bỏ rơi, những người bệnh, những người sống
bên lề xã hội, những người rốt hết.
3. Trong cuộc đời thánh Phanxicô, có một tình tiết cho chúng ta
thấy tấm lòng rộng mở không biên giới của ngài, một tấm lòng
có khả năng vượt khỏi những cách biệt về xuất xứ, quốc tịch,
màu da hay tôn giáo. Đó là câu chuyện ngài viếng thăm vị
Sultan Malik-el-Kamil tại Ai Cập. Cuộc viếng thăm vô cùng gian
nan, đòi hỏi phải cố gắng rất nhiều vì ngài thì nghèo khó,
phương tiện thì ít ỏi, mà đường xá lại cách trở xa xôi, ngôn ngữ
bất đồng, văn hóa và tôn giáo khác biệt... Cuộc hành trình này,
vào thời điểm của cuộc Thập tự chinh lúc đó, càng cho thấy
thánh Phanxicô muốn biểu lộ hơn nữa tình yêu vĩ đại, ước ao
ôm trọn tất cả mọi người. Lòng trung thành của ngài với Chúa
cũng ngang bằng với tình yêu mà ngài dành cho anh chị em
mình. Bất chấp những khó khăn hiểm nguy chực chờ, thánh
Phanxicô đã đến gặp vị Sultan với cùng một tâm thế ngài đã
truyền đạt cho các môn đệ của mình là: đừng chối bỏ căn tính
của mình khi “đang sống giữa những người Xaraxen và những
người không tin khác. đừng tranh luận cũng đừng cãi cọ, nhưng
vì Chúa hãy chịu đựng mọi người”[3]. Trong bối cảnh lúc đó,
đây quả là lời khuyên bảo phi thường. Chúng ta có ấn tượng
rằng tám trăm năm trước đây, thánh Phanxicô đã biết kêu mời
hãy tránh mọi hình thức thù địch hoặc xung đột, cũng như hãy
sống “nhẫn nhịn” cách khiêm tốn và huynh đệ với những người
không cùng chia sẻ niềm tin với mình.
4. Thánh Phanxicô đã không gây ra những cuộc chiến lý lẽ
nhằm áp đặt các luận thuyết nhưng ngài thông truyền tình yêu
Thiên Chúa. Ngài hiểu rằng “Thiên Chúa là tình yêu và ai ởtrong tình yêu thì ở trong Thiên Chúa (1 Ga 4,16). Như vậy,
ngài trở nên người cha khơi dậy giấc mơ về một xã hội huynh
đệ, vì “chỉ có ai sẵn sàng đến bên người khác trong chính nếp
sống của họ nhằm giúp họ trở nên chính mình nhiều hơn chứ
không nhằm lôi kéo họ về phía mình, mới thực sự được gọi là
cha”[4]. Trong thế giới với những tháp canh và thành lũy thời
bấy giờ, các đô thị bị chia năm xẻ bảy bởi các cuộc chiến đẫm
máu giữa các dòng tộc quyền thế, và cảnh nghèo đói lan tràn
khắp các vùng nông thôn. Tuy nhiên, lúc đó, thánh Phanxicô đã
đón nhận được sự bình an nội tâm đích thực và giải thoát mình
khỏi mọi ước muốn thống trị người khác, trở thành một trong
những người rốt hết và tìm cách sống hòa hợp với tất cả. Chính
ngài đã truyền cảm hứng cho thông điệp này.
5. Tôi luôn ưu tư đến các vấn đề liên quan đến tình huynh đệ và
tình bằng hữu xã hội. Những năm gần đây, trong các dịp khác
nhau, tôi đã nhiều lần đề cập về chủ đề đó. Trong thông điệp
này, tôi muốn thu tập và đặt chúng trong bối cảnh suy tư rộng
lớn hơn. Hơn nữa, nếu khi soạn thảo Laudato Si' tôi đã tìm
được nguồn cảm hứng từ người anh em của tôi là Đức
Bartôlômêô, Thượng phụ Chính Thống giáo, người đã mạnh mẽ
cổ võ cho việc bảo vệ thế giới tạo thành, thì lần này, tôi cảm
thấy được khích lệ bởi vị Đại giáo trưởng Ahmad Al-Tayyeb mà
tôi đã gặp tại Abu Dhabi để nhắc lại rằng Thiên Chúa “đã tạo
dựng nhân loại, tất cả đều bình đẳng với nhau về quyền lợi,
nghĩa vụ và phẩm giá, đồng thời đã kêu gọi họ cùng chung sống
với nhau như anh em”[5]. Đây không đơn thuần là một hành
động ngoại giao nhưng là một suy tư phát sinh từ cuộc đối thoại
và dựa trên một cam kết chung. Thông điệp này đã tiếp thu và
khai triển những chủ đề quan trọng được đề cập trong văn kiện
mà chúng tôi đã cùng nhau ký kết. Và ở đây tôi cũng đã trình
bày, theo ngôn phong của tôi, những ý kiến từ các thư từ, tài
liệu mà nhiều người và nhiều nhóm trên khắp thế giới gởi đến
cho tôi.
6. Những trang sau đây không nhằm trình bày một giáo huấn
hoàn chỉnh về tình yêu thương huynh đệ nhưng muốn tập chúvào chiều kích phổ quát và rộng mở của tình huynh đệ dành
cho tất cả mọi người. Tôi xin cống hiến thông điệp xã hội này
như một đóng góp khiêm tốn cho việc tiếp tục suy tư, với hy
vọng rằng khi đối mặt với những toan tính thời nay nhằm loại
trừ hoặc bỏ mặc con người, chúng ta có thể phản ứng bằng một
viễn tượng mới mẻ về tình huynh đệ và bằng hữu xã hội, mà
không dừng lại ở ngôn từ. Mặc dầu thông điệp này được viết từ
niềm xác tín Kitô giáo vốn nâng đỡ và nuôi dưỡng tôi, nhưng tôi
cũng đã tìm cách biến những suy tư này thành lời mời gọi đối
thoại giữa tất cả những người thiện chí.
7. Hơn nữa, khi thông điệp này đang được soạn thảo, cơn đại
dịch Covid-19 bất ngờ bùng phát, phơi trần những an toàn giả
tạo của chúng ta. Các phản ứng rời rạc của các quốc gia cho
thấy rõ họ không có khả năng phối hợp hành động. Mặc dầu
các quốc gia có được siêu kết nối, người ta vẫn chứng kiến một
sự phân mảnh khiến việc giải quyết các vấn đề sát sườn của
chúng ta càng thêm khó khăn. Nếu có ai đó tin rằng vấn đề chỉ
là phải bảo đảm làm sao cho có được một sự vận hành tốt hơn
những gì trước đây chúng ta đã làm hoặc tin rằng bài học duy
nhất cần rút ra đó là phải cải thiện các hệ thống và những quy
định hiện hành, thì đích thị đây là một kẻ bịt tai nhắm mắt chối
bỏ thực tại.
8. Tôi ước mong rằng trong thời đại hiện nay, bằng cách thừa
nhận phẩm giá của mỗi con người, chúng ta có thể góp phần
làm sống lại khát vọng phổ quát về tình huynh đệ. Tất cả cùng
chung tay: “Đây là bí quyết tuyệt hảo để ước mơ và biến đời ta
thành một cuộc phiêu lưu kỳ thú. Không ai có thể đơn độc
đương đầu với cuộc đời. [...] Chúng ta cần có một cộng đồng để
được nâng đỡ và được hỗ trợ, đồng thời trong cộng đồng đó
chúng ta giúp nhau nhìn về phía trước. Mơ ước cùng nhau
quan trọng biết mấy! [...] Khi đơn độc, người ta có nguy cơ thấy
những ảo ảnh, thấy những gì không có thật; còn ước mơ là do
cùng nhau tạo nên”[6]. Vậy chúng ta hãy ước mơ như một nhân
loại duy nhất, như những người du hành cùng chia sẻ một thân
xác con người, như những đứa con của cùng một đất mẹ, vốnlà ngôi nhà chung của chúng ta, mỗi người với sự phong phú
của niềm tin và những xác tín của mình, mỗi người với cung
giọng riêng của mình, tất cả đều là anh em.
CHƯƠNG MỘT:
BÓNG TỐI CỦA MỘT THẾ GIỚI KHÉP KÍN
9. Tôi không có ý thực hiện một phân tích rốt ráo hay một
nghiên cứu toàn diện về mọi thực tại đang xảy ra, mà chỉ đề
nghị chúng ta hãy chú ý đến một số những xu hướng của thế
giới hiện nay đang cản trở sự thăng tiến của tình huynh đệ phổ
quát.
NHỮNG GIẤC MƠ TAN VỠ
10. Sau nhiều thập niên, dường như thế giới đã rút ra được bài
học từ những cuộc chiến tranh và thất bại, để rồi dần dần
hướng đến nhiều hình thức hòa hợp mới. Chẳng hạn, đã có
những tiến triển trong việc thực hiện giấc mơ một châu Âu
thống nhất có khả năng thừa nhận những cội rễ chung và hân
hoan đón nhận sự đa dạng phong phú của nó. Chúng ta nhớ
đến “niềm xác tín vững chắc của các vị sáng lập Liên hiệp châu
Âu, họ đã mường tượng ra một châu Âu tương lai đặt nền tảng
trên khả năng cùng nhau làm việc để vượt thắng các chia rẽ
cũng như cổ võ hòa bình và hiệp thông giữa tất cả các dân tộc
trên lục địa này”[7]. Cũng vậy, niềm mong ước hòa hợp châu
Mỹ Latinh đã được củng cố, đồng thời những bước khởi đầu đã
được tiến hành. Tại một số quốc gia và khu vực khác, các nỗ
lực hòa giải và thiết lập mối quan hệ hữu nghị đã gặt hái được
nhiều thành quả, bên cạnh đó các nỗ lực khác cũng tỏ ra có
nhiều hứa hẹn.
11. Tuy nhiên, những diễn tiến lịch sử cũng cho thấy có dấu
hiệu xấu đi. Các xung đột xưa cũ xem ra đã lùi vào dĩ vãng nay
đang bùng phát trở lại, các hình thức chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi,
cực đoan, thù hằn và hiếu chiến đang trỗi dậy. Tại một số nước,
ý tưởng đoàn kết dân tộc và thống nhất quốc gia, do ảnh hưởng
của các ý thức hệ, đã tạo ra những hình thức vị kỷ mới cũng
như đã xóa bỏ ý thức xã hội dưới chiêu bài bảo vệ lợi ích quốcgia. Điều này nhắc chúng ta nhớ rằng “mỗi thế hệ phải đảm
nhận những cuộc đấu tranh cũng như những thành tựu của các
thế hệ đi trước và nâng lên những tầm mức cao hơn nữa. Đây
là con đường. Điều thiện hảo, cũng như tình yêu, công lý và sự
liên đới không cứ giành được một lần là có mãi nhưng phải
chinh phục mỗi ngày. Không thể thỏa mãn với những gì đã đạt
được trong quá khứ và mặc sức tận hưởng như thể chúng ta
chẳng biết gì về tình cảnh của biết bao anh chị em đang phải
chịu đựng những bất công khiến tất cả chúng ta đều bị chất
vấn”[8].
12. “Mở ra với thế giới” là kiểu nói được các ngành kinh tế và tài
chính ưa chuộng và ngày cách riêng được sử dụng để nói đến
việc mở cửa vì quyền lợi nước ngoài hoặc để các thế lực kinh
tế được tự do đầu tư vào mọi quốc gia mà không gặp trở ngại
hay rắc rối nào. Nền kinh tế toàn cầu lợi dụng các xung đột địa
phương và việc thờ ơ với thiện ích chung để áp đặt một mẫu
hình văn hóa duy nhất. Nền văn hóa này thống nhất thế giới
nhưng chia rẽ loài người và các quốc gia, bởi lẽ “khi càng toàn
cầu hóa, xã hội làm chúng ta gần nhau nhưng không làm chúng
ta thành anh em với nhau”[9]. Chúng ta cảm thấy cô đơn hơn
bao giờ hết trong một thế giới mang tính chất đám đông, một
thế giới đề cao lợi ích cá nhân và hạ giá chiều kích của đời
sống cộng đồng. Đúng là có nhiều thị trường nhưng nơi đó con
người chỉ đóng vai trò người tiêu thụ hay người qua lại đứng
nhìn. Về nguyên tắc, sự phát triển của xu hướng toàn cầu hóa
này tạo thuận lợi cho những vùng có căn tính mạnh mẽ hơn, có
khả năng tự bảo vệ mình, nhưng lại có khuynh hướng làm suy
giảm căn tính của những khu vực yếu kém và nghèo khó hơn,
khiến những khu vực này dễ bị tổn thương và phụ thuộc hơn
nữa. Như thế nền chính trị càng thêm suy nhược so với các thế
lực kinh tế xuyên quốc gia, chuyên áp dụng chính sách “chia để
trị”.
Tận kết của ý thức lịch sử
13. Cũng bởi lý do này, cảm thức lịch sử ngày càng lu mờ, dẫn
đến thực trạng phân rã hơn nữa. Có một loại “giải gỡ cấu trúc”đang thấm nhiễm nền văn hóa ngày nay, theo đó nại đến tự do,
con người muốn làm nên tất cả từ số không. Điều nó để lại chỉ
là nhu cầu tiêu thụ vô độ với các biểu hiện của chủ nghĩa cá
nhân cạn cợt. Chính trong bối cảnh này, tôi muốn khuyên nhủ
các bạn trẻ rằng: “Nếu có ai đó đề nghị và bảo các bạn đừng
ngó ngàng lịch sử, đừng đếm xỉa đến kinh nghiệm của các bậc
lão thành, khinh miệt quá khứ và chỉ hướng đến tương lai do họ
bày vẽ ra, thì đây chẳng phải là một thứ cạm bẫy khiến các bạn
dễ dàng làm theo những gì họ chỉ dạy hay sao? Những kẻ này
muốn các bạn trở nên hời hợt, mất gốc, hoài nghi, để rồi chỉ tin
tưởng vào những hứa hẹn và làm theo những ý đồ của họ. Đó
chính là cách thức các ý thức hệ thuộc đủ loại sắc màu vận
hành: chúng phá hủy (hay giải gỡ cấu trúc) mọi khác biệt để rồi
có thể thống trị mà không bị phản kháng. Để làm được như thế,
chúng cần các bạn trẻ khinh thường lịch sử, chối bỏ di sản tinh
thần và nhân văn phong phú do các thế hệ cha ông truyền lại,
không biết gì về những chuyện đã xảy ra trước đây”[10].
14. Đây chính là những hình thức thực dân mới về văn hóa.
Chúng ta đừng quên rằng “các dân tộc từ bỏ truyền thống của
mình và, vì sính bắt chước hay bị bạo lực kích động, vì sự cẩu
thả tắc trách hay do vô tâm vô tình mà chịu để cho người ta
cướp đoạt linh hồn của mình, thì rốt cuộc những dân tộc này
không chỉ đánh mất bản sắc tinh thần mà cả chuẩn mực đạo
đức của mình, để rồi cuối cùng sẽ đánh mất cả sự độc lập về tư
tưởng, kinh tế và chính trị nữa”[11]. Một phương cách hữu hiệu
làm suy yếu ý thức lịch sử, tư duy phê phán, ý muốn dấn thân
cho công lý và những tiến trình hòa hợp là làm cho những từ
ngữ quan trọng mất đi ý nghĩa hay đánh tráo khái niệm của
chúng. Ngày nay, những từ ngữ như dân chủ, tự do, công bằng,
thống nhất thực sự có ý nghĩa gì? Chúng đã bị bóp méo và
xuyên tạc để sử dụng như công cụ thống trị, như những câu
chữ sáo rỗng có thể dùng để biện minh cho bất kỳ hành động
nào.
THIẾU KẾ HOẠCH CHO MỌI NGƯỜI15. Cách tốt nhất để thống trị và giành quyền kiểm soát dân
chúng là gieo rắc nỗi tuyệt vọng và chán nản, ngay cả trên danh
nghĩa bảo vệ một số giá trị nào đó. Ngày nay, ở nhiều quốc gia,
việc cường điệu, cực đoan hoá và gây phân hoá đã trở thành
những công cụ chính trị. Người ta sử dụng nhiều chiến lược
khác nhau như chế giễu, gây nghi ngờ và khích bác, để phủ
nhận quyền sống hoặc quyền có ý kiến của người dân. Phần
đóng góp của họ cho sự thật và các giá trị khác không được
nhìn nhận, chính vì thế xã hội hóa ra nghèo nàn và bị cường
quyền ngạo mạn khuất phục. Khi đó chính trị không còn là cuộc
thảo luận lành mạnh liên quan đến những kế hoạch dài hạn
nhằm cải thiện điều kiện dân sinh và gia tăng thiện ích chung
nhưng chỉ là các mánh khóe của thị trường, nhắm đến kết quả
tức thời hòng tìm cách hữu hiệu nhất để triệt hạ người khác.
Trong cuộc đấu đá hèn hạ này, việc tranh luận hóa thành tình
trạng thường xuyên tranh cãi và đối kháng.
16. Trong các cuộc xung đột lợi ích khiến người ta đối đầu với
nhau và chiến thắng đồng nghĩa với việc loại trừ đối thủ, thì làm
thế nào có thể nâng tầm nhìn để nhận ra người lân cận hoặc trợ
giúp những ai quỵ ngã trên đường? Ngày nay, người ta cho
rằng việc đặt kế hoạch cho những mục tiêu lớn lao nhằm thăng
tiến toàn thể nhân loại có vẻ là điều hoang tưởng. Khoảng cách
giữa chúng ta ngày càng xa, trong khi cuộc hành trình gian nan
và chậm chạp tiến đến một thế giới ngày càng hợp nhất và công
bằng lần nữa đành phải quay gót thoái lui, không thể chống
cưỡng.
17. Chăm sóc cho thế giới nơi chúng ta đang sống đồng nghĩa
với chăm sóc chính mình. Nhưng chúng ta cần phải liên đới với
nhau thành một cái “chúng ta” đang cùng chung sống trong một
Ngôi nhà. Các thế lực kinh tế chỉ cần lợi nhuận càng nhanh
càng tốt nên không quan tâm đến việc chăm sóc trái đất. Các
tiếng nói gióng lên yêu cầu chiếu cố đến môi trường thường
phải im bặt hoặc bị chế giễu bằng các lập luận bề ngoài xem ra
hợp lý nhưng thực chất chỉ là bức màn che đậy những lợi ích
đặc thù. Trong nền văn hóa mà chúng ta đang tạo ra này, mộtnền văn hóa nông cạn và thiển cận vì chỉ tìm kiếm những thành
quả tức thời, thiếu viễn kiến chung, “có thể thấy trước rằng, việc
cạn kiệt một số các nguồn tài nguyên, chính là bối cảnh để từng
bước dễ dàng đưa đến những cuộc chiến mới, viện cớ những
yêu sách cao thượng”[12].
Một thế giới “thải bỏ”
18. Dường như có một số thành phần nhân loại đáng phải hy
sinh để tạo thuận lợi cho những thành phần khác được xem là
đáng được sống thảnh thơi. Rốt cuộc, “con người không còn
được xem như có giá trị tối cao phải được tôn trọng và bảo vệ,
nhất là những người nghèo hoặc khuyết tật, chưa hữu dụng
(như trẻ sắp ra đời), hoặc chẳng còn ích lợi gì (như người già
cả). Chúng ta đã trở nên vô cảm với mọi kiểu hoang phí, trước
hết là hoang phí thực phẩm, loại hoang phí tệ hại nhất”[13].
19. Việc giảm tỉ lệ sinh đẻ, dẫn đến dân số bị lão hóa, cùng với
việc người già bị bỏ mặc trong đơn độc tủi buồn, cho thấy rằng
chúng ta đã quy tất cả về cho mình, chỉ có lợi ích cá nhân của
chúng ta là quan trọng. Vì thế, “đối tượng thường bị thải bỏ
không chỉ là thực phẩm hoặc những thứ dư thừa mà là chính
con người”[14]. Chúng ta đã thấy những gì mà người già cả tại
một số nơi trên thế giới đã phải hứng chịu vì virus Corona. Lẽ ra
họ đã không phải chết như thế. Nhưng trong thực tế, những
điều tương tự đã từng xảy ra vì những đợt nắng nóng và trong
những tình huống khác, người già đã bị bỏ rơi một cách tàn
nhẫn. Chúng ta không nhận ra rằng khi cô lập người già và bỏ
mặc họ cho người khác chăm sóc, không có sự gần gũi và quan
tâm thích đáng của các thành viên trong gia đình, là chúng ta đã
làm cho chính gia đình bị biến dạng và bần cùng. Hơn nữa, rốt
cuộc điều này còn tước mất của người trẻ sự nối kết cần thiết
với nguồn cội và với di sản khôn ngoan mà họ không thể tự
mình đạt được.
20. Việc loại bỏ này tỏ lộ ra bằng nhiều cách, chẳng hạn nỗi ám
ảnh phải cắt giảm chi phí lao động mà không tính đến những
hậu quả tai hại của nó, bởi lẽ nạn thất nghiệp kéo theo sẽ làmgia tăng tầng lớp nghèo[15]. Thêm vào đó, việc loại trừ này
mang lấy những hình thức tệ hại tưởng như không còn tồn tại,
như tệ phân biệt chủng tộc, cứ ẩn nấp và rồi lại liên tục xuất
hiện. Những biểu hiện phân biệt chủng tộc vẫn còn khiến chúng
ta xấu hổ khi cho thấy những gì được gọi là tiến bộ xã hội thì
không có thực chất cũng không bền vững.
21. Một số quy định kinh tế tỏ ra hữu hiệu cho việc tăng trưởng,
nhưng đối với việc phát triển con người toàn diện thì không[16].
Gia tăng sự giàu có, nhưng kèm theo những bất bình đẳng; và
như thế những hình thức nghèo đói mới lại nảy sinh”[17]. Khi
cho rằng thế giới ngày nay đã xóa đói giảm nghèo ấy là người
ta đo lường sự nghèo đói với những tiêu chuẩn cũ không hề
thích ứng với những thực tại ngày nay. Thực vậy, chẳng hạn
trước đây người ta không xem việc thiếu điện năng là dấu hiệu
nghèo đói cũng như là nguồn gốc của sự lầm than khổ cực. Sự
nghèo đói luôn phải được hiểu và xem xét trong bối cảnh những
gì có thể thực hiện vào thời điểm lịch sử nhất định.
Nhân quyền không đủ phổ quát
22. Rõ ràng là nhiều khi trong thực tế, không có bình đẳng nhân
quyền cho hết mọi người. Việc tôn trọng nhân quyền “là [...]
điều kiện tiên quyết để một quốc gia có thể phát triển về mặt xã
hội và kinh tế. Khi phẩm giá con người được tôn trọng, và khi
quyền con người được công nhận và bảo đảm, thì năng lực
sáng tạo và mối tương quan với người khác sẽ được triển nở,
đồng thời nhân cách con người sẽ được phát huy qua những
việc làm nhắm đến thiện ích chung”[18]. Tuy nhiên “khi chú ý
quan sát xã hội hiện nay, chúng ta nhận ra vô vàn mâu thuẫn,
nhiều đến nỗi chúng ta phải đặt ra câu hỏi liệu rằng phẩm giá
bình đẳng của mọi người, vốn được long trọng công bố bảy
mươi năm trước, có thực sự là được công nhận, tôn trọng, bảo
vệ và đề cao trong mọi hoàn cảnh hay không. Trong thế giới
ngày nay, còn tồn tại nhiều hình thức bất công, được dung
dưỡng bởi quan điểm coi thường con người và mô hình kinh tế
dựa trên lợi nhuận, sẵn sàng bóc lột, loại trừ và thậm chí tiêu
diệt người khác. Trong lúc một phần nhân loại sống trong nhunglụa thì một phần khác thấy phẩm giá mình bị chối bỏ, bị khinh
khi hoặc bị chà đạp và các quyền căn bản thì không được nhìn
nhận hoặc bị vi phạm”[19]. Những chuyện này nói lên điều gì về
quyền bình đẳng dựa trên chính phẩm giá của con người?
23. Cũng vậy, cơ cấu tổ chức xã hội trên toàn thế giới còn lâu
mới phản ánh được việc phụ nữ hoàn toàn có phẩm giá và
quyền lợi y như nam giới. Lời lẽ khẳng định là một chuyện, còn
quyết định và thực tế lại là một chuyện khác. Thực vậy, “các
phụ nữ trong hoàn cảnh bị loại trừ, ngược đãi và bạo lực phải
chịu nghèo khổ gấp đôi bởi vì họ thường là những người ít có
khả năng nhất trong việc bảo vệ quyền lợi của mình”.[20]
24. Chúng ta cũng thừa nhận rằng “mặc dù cộng đồng quốc tế
đã đạt được nhiều thỏa thuận nhằm chấm dứt tình trạng nô lệ
dưới mọi hình thức, và đang tiến hành nhiều kế hoạch chống lại
hiện tượng này, nhưng ngày nay vẫn còn hàng triệu người, bao
gồm trẻ em, nam giới và nữ giới thuộc mọi lứa tuổi, bị tước mất
tự do và bị cưỡng bách sống trong những điều kiện không khác
gì nô lệ. [...] Thời nay cũng như thời xưa, gốc rễ của nô lệ chính
là quan điểm cho phép đối xử với con người như đồ vật. [...] Có
thể là do bị ép buộc, bị lừa dối, hay bị cưỡng bức về thể lý hay
tâm lý, con người, vốn được tạo dựng theo hình ảnh và giống
với Thiên Chúa, bị tước đoạt tự do, bị bán, bị biến thành vật sở
hữu trong tay người khác. Khi đó họ bị đối xử như phương tiện
chứ không như mục đích”. Các mạng lưới tội phạm “thường sử
dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để mồi chài các
thanh niên thiếu nữ, những người còn rất trẻ, ở khắp nơi trên
thế giới”[21]. Thật là đồi bại không còn gì để nói khi các phụ nữ
bị hành hạ ngược đãi và rồi bị buộc phải phá thai. Thật là kinh
khủng gớm ghê khi có người bị bắt cóc để bán nội tạng. Chính
vì thế nạn buôn người và những hình thức nô lệ hiện đại trở
thành vấn đề toàn cầu phải được toàn thể nhân loại nghiêm túc
xem xét, vì “các tổ chức tội phạm sử dụng mạng lưới toàn cầu
để đạt mục tiêu của họ, nên các dấn thân nhằm xóa bỏ hiện
tượng này phải là một nỗ lực chung và cũng có tính toàn cầu
với sự cộng tác của các thành phần khác nhau trong xã hội”[22].Xung đột và sợ hãi
25. Chiến tranh, tấn công khủng bố, bách hại sắc tộc và tôn
giáo cùng biết bao tổn hại khác cho phẩm giá con người được
phán xét khác nhau, tùy theo mức độ chúng có phù hợp trong
việc mang lại lợi ích nào đó, nhất là lợi ích kinh tế. Chúng được
xem là đúng chừng nào còn hợp theo ý muốn nhà cầm quyền,
và một khi không hợp ý nhà cầm quyền thì không còn đúng nữa.
Thật đáng buồn khi phải nói rằng các tình trạng bạo lực này “đã
trở nên phổ biến đến nỗi có thể gọi là “cuộc thế chiến thứ ba”
phân mảnh”[23].
26. Không có gì phải ngạc nhiên về việc này nếu chúng ta nhận
ra rằng những chân trời chung hợp nhất chúng ta không còn tồn
tại nữa; thật vậy, trong mọi cuộc chiến, điều đầu tiên bị hủy hoại
là “thiên hướng xây dựng tình huynh đệ vốn gắn liền với bản
tính của gia đình nhân loại”. Hậu quả là, “mọi tình huống gây đe
dọa đều làm nảy sinh mối hoài nghi và thúc đẩy con người rút
lui vào vùng an toàn của mình”[24]. Và như vậy, thế giới chúng
ta loay hoay trong một mâu thuẫn dị thường: chúng ta tin rằng
chúng ta có thể giữ cho thế giới ổn định và hòa bình bằng một
cảm thức an toàn giả tạo, chỉ dựa trên não trạng sợ hãi và ngờ
vực”[25].
27. Thật là nghịch lý, có những nỗi sợ hãi từ bao đời truyền lại
dẫu cho kỹ thuật có phát triển thế nào cũng không vượt thắng
được; ngược lại, chúng có thể ẩn nấp và lan truyền đằng sau
những kỹ thuật tân kỳ. Ngày nay cũng thế, bên ngoài các bức
thành cổ xưa là vực thẳm, là lãnh địa xa lạ, là sa mạc hoang vu.
Bất cứ điều gì phát xuất từ đó đều không thể tin cậy, vì đều xa
lạ, không quen biết, không quen thuộc, không thuộc thành phần
ngôi làng của chúng ta. Đó là vùng đất của “man dân”, là kẻ
chúng ta phải lo phòng thủ đối địch bằng mọi giá. Do đó, các
bức tường mới được dựng lên để tự vệ, để rồi thế giới bên
ngoài không còn tồn tại mà chỉ còn thế giới “của tôi”, đến nỗi
những người khác, không còn được xem là con người với phẩm
giá không thể tước bỏ, nhưng chỉ là “bọn chúng” mà thôi. Chúng
ta lần nữa lại đương đầu với “cơn cám dỗ tạo ra nền văn hóaxây tường, dựng lên những bức tường, những bức tường trong
tim, những bức tường trên thực địa, để ngăn ngừa cho khỏi
giáp mặt với các nền văn hóa khác, với các dân tộc khác. Và rốt
cuộc những người xây tường sẽ thành nô lệ bên trong chính
những bức tường họ đã dựng xây. Họ không có chân trời để
hướng tới, bởi thiếu vắng sự đổi trao với các nền văn hóa khác,
với những người khác”[26].
28. Nỗi cô đơn, sợ hãi và bất an của những người cảm thấy bị
hệ thống này bỏ rơi tạo nên thửa đất màu mỡ cho vô số thế lực
“mafia”. Thực vậy, những thế lực này nảy sinh bởi lẽ chúng tự
cho mình là người bảo vệ những kẻ bị lãng quên, thông thường
bằng cách trợ giúp họ ngay cả khi mục đích của chúng là nhắm
đến những lợi ích bất chính. Cũng có một kiểu dẫn dắt mang
đặc điểm mafia, bằng cách lôi kéo người ta vào một cộng đồng
mang tính huyền bí giả tạo, với những ràng buộc phụ thuộc và
gắn bó rất khó thoát khỏi.
TOÀN CẦU HÓA VÀ SỰ TIẾN BỘ
KHÔNG CÓ LỘ TRÌNH CHUNG
29. Vị Đại giáo trưởng Ahmad Al-Tayyeb và tôi không phải là
không biết đến những thành tựu đã đạt được, nhất là tại những
nước đang phát triển, trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, y tế,
công nghiệp và phúc lợi. Tuy nhiên, “chúng tôi muốn nhấn
mạnh rằng, cùng với các tiến bộ lớn lao, có giá trị và mang tính
lịch sử này, cũng đang diễn ra tình trạng suy thoái đạo đức, ảnh
hưởng đến các hoạt động quốc tế và làm cho những giá trị tinh
thần cùng ý thức trách nhiệm bị suy yếu đi. Tất cả những điều
này góp phần lan rộng một cảm giác nói chung là chán nản,
đơn độc và tuyệt vọng. [...] Những điểm nóng đối kháng phát
sinh, kho vũ khí và đạn dược được tăng cường, trong bối cảnh
thế giới đầy tràn những bất ổn, thất vọng, lo sợ tương lai, hơn
nữa còn bị lèo lái bởi những lợi ích kinh tế hạn hẹp”. Chúng tôi
cũng chú ý đến “những cuộc khủng hoảng chính trị nổi bật,
những bất công và tình trạng thiếu công bằng trong việc phân
phối nguồn tài nguyên thiên nhiên. [...] Đối diện với các cuộc
khủng hoảng trên, khiến hàng triệu trẻ em gầy gò trơ xươngchết vì nghèo đói, mà trên bình diện quốc tế chỉ thấy bao trùm
một sự im lặng không thể chấp nhận”[27]. Trước bức tranh toàn
cảnh này, dù với nhiều tiến bộ không thể phủ nhận, cũng không
thấy có một lộ trình thực sự mang tình người.
30. Trong thế giới ngày nay, cảm thức thuộc về một gia đình
nhân loại duy nhất ngày càng phai nhạt, và giấc mơ cùng chung
tay xây dựng công lý và hòa bình dường như là điều không
tưởng, lỗi thời. Ngự trị thay vào đó là sự lãnh đạm tiện lợi, lạnh
lùng và bao trùm, phát sinh từ mối thất vọng sâu xa, mối thất
vọng được che giấu bởi sự xảo trá của ảo tưởng tin rằng chúng
ta toàn năng, mà không nhận thấy tất cả chúng ta đều trên cùng
một con thuyền. Ảo tưởng này chẳng quan tâm gì đến những
giá trị cao cả của tình huynh đệ, dẫn chúng ta đến “một loại hoài
nghi. Đó là cơn cám dỗ chúng ta phải đối diện nếu đi vào con
đường chán nản hoặc thất vọng. [...] Sự cô lập hoặc khép kín
trong những mối bận tâm của chính mình không bao giờ là con
đường mang lại hy vọng và dẫn đến đổi mới. Con đường này
chỉ được hình thành bởi sự gần gũi, bởi nền văn hóa gặp gỡ.
Hãy nói không với sự cô lập và nói có với sự gần gũi. Hãy nói
không với văn hóa đối kháng và nói có với văn hóa gặp gỡ”[28].
31. Thế giới vẫn đang tiến bước mà không có lộ trình chung.
Trong thế giới đó chúng ta ngày càng cảm thấy một bầu khí ở
đó “khoảng cách giữa mối bận tâm về phúc lợi cá nhân và sự
thịnh vượng của nhân loại dường như ngày càng dang rộng đến
nỗi có sự phân cách hoàn toàn giữa cá nhân và cộng đồng
nhân loại. […] Bởi lẽ cảm thấy phải sống chung với nhau là một
chuyện, còn quý trọng sự phong phú và vẻ đẹp của những hạt
mầm của cuộc sống chung phải được chung sức tìm kiếm và
vun trồng lại là một chuyện khác”[29]. Kỹ thuật không ngừng
phát triển, nhưng “sẽ tốt đẹp biết mấy nếu cùng với những tiến
bộ sáng tạo của khoa học kỹ thuật, xã hội ngày càng thêm bình
đẳng và gắn kết với nhau. Và cũng tốt đẹp biết bao, nếu đang
khi phát hiện ra những hành tinh xa lạ, chúng ta cũng lại phát
hiện ra nhu cầu của các anh chị em sống chung quanh ta”[30].
CÁC ĐẠI DỊCH VÀ CÁC THẢM HỌA KHÁC TRONG LỊCH SỬ32. Quả thực, thảm kịch toàn cầu như đại dịch Covid-19, có lúc
đã khơi lại rõ ràng cái cảm thức chúng ta là một cộng đồng thế
giới đang chèo chống trên cùng một con thuyền, ở đó điều gây
tổn hại cho người này cũng gây tổn hại cho những người khác.
Phải nhớ rằng nếu có được cứu, thì tất cả cùng được cứu, chứ
chẳng có chuyện chỉ riêng ai đó được cứu. Đó là lý do trước
đây tôi đã nói “cơn bão tỏ lộ cho thấy tính dễ bị tổn thương của
chúng ta và cũng cho thấy những thứ an toàn giả tạo vô ích, mà
chúng ta dựa vào để sắp đặt lịch trình hằng ngày, để xây dựng
các dự án, thói quen và ưu tiên của chúng ta... Trong cơn giông
bão này, những kiểu mẫu mặt nạ che giấu cái tôi của chúng ta,
cái tôi luôn chăm chút dáng vẻ bên ngoài, đã bị rơi xuống, để rồi
một lần nữa cho thấy cái cảm thức không thể chối bỏ và cũng
thật tốt lành, đó là cảm thức chúng ta thuộc về nhau, là anh chị
em với nhau”[31].
33. Nhờ tiến bộ công nghệ, thế giới không ngừng hướng tới một
nền kinh tế với “những tổn hại cho con người và xã hội” ngày
càng thấp. Có người thuyết phục chúng ta tin rằng cứ có thị
trường tự do thì mọi thứ đều sẽ đâu vào đó. Tuy nhiên, với cú
đánh sấm sét và bất ngờ của cơn đại dịch khó kiểm soát này,
chúng ta buộc phải quan tâm đến con người, đến mọi người,
thay vì chỉ nghĩ đến lợi ích của một số người. Ngày nay, chúng
ta có thể nhận ra rằng “chúng ta đã ấp ủ những giấc mơ long
lanh bay bổng, nhưng rốt cuộc lại thường rối trí, khép kín và cô
độc. Chúng ta tích góp để có nhiều mối liên kết trên mạng
nhưng lại đánh mất hương vị huynh đệ. Chúng ta mong tìm
những kết quả nhanh chóng và chắc chắn nhưng lại bị áp lực vì
thiếu kiên nhẫn và lo âu. Trở thành tù nhân cho thực tại ảo,
chúng ta đã đánh mất hương vị của đời thực”[32]. Nỗi thống khổ,
tình trạng bấp bênh, sự sợ hãi và việc nhận ra các giới hạn của
bản thân, do cơn đại dịch gợi lên, càng khiến chúng ta phải cấp
bách suy nghĩ lại về lối sống, các mối tương quan, cách tổ chức
xã hội, và trên hết là ý nghĩa hiện hữu của chúng ta.[33]
34. Nếu mọi thứ đều có ảnh hưởng đến nhau, thật khó mà nghĩ
rằng thảm họa mang tính toàn cầu này lại không liên quan gìđến cách chúng ta tiếp cận thực tại, khi cứ nhất định cho rằng
chúng ta là chủ nhân tuyệt đối của chính cuộc đời mình và của
tất cả những gì đang tồn tại. Tôi không muốn nói đây là do thần
thánh trừng phạt. Cũng không cần phải khẳng định rằng những
tổn hại mà chúng ta gây ra cho thiên nhiên chính là hình phạt
cho các sai phạm của chúng ta. Chính những thực tại này đang
rên xiết nổi loạn. Tôi chợt nhớ đến câu thơ nổi tiếng của thi sĩ
Virgil vốn gợi lại “những giọt nước mắt của sự vật”, những bất
hạnh của cuộc đời và lịch sử33.
35. Tuy nhiên, chúng ta mau chóng quên đi những bài học của
lịch sử, vốn là “thầy dạy của cuộc sống”[34]. Khi cuộc khủng
hoảng sức khỏe này qua đi, phản ứng tệ hại nhất của chúng ta
là chìm ngập sâu hơn vào cơn sốt chủ nghĩa tiêu thụ và các
hình thức mới của bản năng đấu tranh tự tồn ích kỷ. Nhờ trời,
rốt cuộc, chúng ta không còn suy nghĩ kiểu “bọn chúng”, “bọn
nó”, mà chỉ còn là “chúng ta”. Ước gì đây không là một bi kịch
khác của lịch sử mà lại một lần nữa chúng ta chẳng học được
gì. Ước gì chúng ta luôn nhớ đến những người già đã chết vì
thiếu máy trợ thở, phần nào đó là do hậu quả tích tụ dần, hết
năm này đến năm khác, trong việc dỡ bỏ các trang thiết bị của
hệ thống chăm sóc sức khỏe. Ước gì nỗi đớn đau dằn vặt lớn
lao đó không trở nên vô ích, nhưng là bước tiến giúp chúng ta
biết đổi mới cách sống. Ước gì chúng ta tái khám phá và vĩnh
viễn nhận biết rằng chúng ta cần đến nhau, chúng ta mắc nợ
lẫn nhau để nhờ đó, gia đình nhân loại được tái sinh, với mọi
khuôn mặt, mọi bàn tay và mọi tiếng nói, vượt khỏi các bức
tường biên giới mà chúng ta đã dựng nên.
36. Trừ phi chúng ta tìm lại được niềm khát vọng cùng muốn
chung tay xây dựng một cộng đồng phụ thuộc và liên đới, đáng
cho chúng ta cống hiến hết thời gian, tài trí, công sức và tiền
của, bằng không, khi cái ảo tưởng toàn cầu từng lừa dối chúng
ta đã sụp đổ, nhiều người trong chúng ta sẽ bị vây hãm bởi nỗi
chán chường và trống rỗng. Hơn nữa, không nên ngây thơ chối
bỏ sự thực này: “nỗi ám ảnh bởi lối sống tiêu thụ sẽ đưa tới bạo
lực và hủy diệt lẫn nhau, nhất là khi chỉ có ít người có khả năngduy trì lối sống ấy”[35]. Quan điểm “mạnh ai nấy lo” sẽ mau
chóng trở thành “tất cả đều là địch thù” và điều này còn tệ hại
hơn bất cứ cơn đại dịch nào.
KHÔNG CÓ NHÂN PHẨM TẠI CÁC BIÊN GIỚI
37. Theo một số chế độ chính trị dân túy, cũng như một số lập
trường kinh tế tự do, người ta chủ trương rằng cần phải ngăn
chặn dòng người di cư bằng bất cứ giá nào. Đồng thời, cũng lập
luận rằng cần phải hạn chế viện trợ cho các nước nghèo, vì khi
kiệt quệ họ sẽ phải thực hiện các biện pháp thắt lưng buộc bụng.
Người ta không nhận ra rằng, đằng sau những tuyên bố hàm hồ
khó chấp nhận ấy, có nhiều mảnh đời bị đe dọa. Nhiều người di
cư để trốn tránh chiến tranh, bách hại và thảm họa thiên nhiên.
Nói cho ngay, nhiều người khác “mưu cầu cơ may cho bản thân
và gia đình. Họ mơ ước có được một tương lai tươi đẹp hơn và
muốn tạo điều kiện để thực hiện ước mơ đó”[36].
38. Điều đáng buồn là có những di dân khác “bị lôi cuốn bởi nền
văn hóa phương Tây, đôi khi ấp ủ những kỳ vọng không thực tế,
nên rơi vào thất vọng ê chề. Những kẻ buôn lậu vô lương tâm,
thường cấu kết với các băng đảng buôn bán ma túy và vũ khí,
lợi dụng tình cảnh khó khăn yếu thế của di dân, vốn đã thường
xuyên phải đối đầu với bạo lực, với nạn buôn người, với các
lạm dụng tâm lý và thể lý, cũng như với vô vàn những khổ đau
trên suốt hành trình của họ”[37]. Những di dân này “phải xa rời
quê cha đất tổ, và thường mất cả cội rễ văn hóa và tôn giáo.
Tình trạng ly tán cũng ảnh hưởng đến các cộng đồng ở quê nhà,
vì mất đi các thành viên khỏe mạnh và tháo vát nhất, đồng thời
cũng ảnh hưởng đến các gia đình, đặc biệt là khi cha hoặc mẹ,
hay cả hai, phải ra đi, bỏ lại con cái nơi quê nhà”[38]. Vì thế,
“cũng cần phải tái khẳng định quyền không di cư, nghĩa là
quyền được tạo điều kiện để ở lại trên chính quê hương
mình”.[39]
39. Hơn nữa, “tại một số quốc gia mà họ đến, hiện tượng di dân
đã gây nên nỗi e ngại và làm cho dân chúng lo sợ, những cảm
xúc này thường bị kích động và khai thác nhằm mục đích chínhtrị. Vì thế, dẫn đến não trạng bài ngoại, khép kín và co cụm.
Chúng ta cần phản ứng quyết liệt trước tình trạng này”[40]. Các
di dân bị coi là không đủ xứng đáng như những người khác để
tham gia vào đời sống xã hội, và người ta quên rằng họ cũng có
phẩm giá nội tại như bất kỳ ai. Do đó, họ phải là “tác nhân chính
trong việc tự nâng mình dậy”[41]. Chẳng bao giờ chúng ta nói
rằng họ không phải là con người, nhưng trên thực tế, cách
chúng ta quyết định và đối xử với họ chứng tỏ rằng chúng ta coi
họ kém giá trị, kém quan trọng và kém nhân bản. Với các Kitô
hữu, não trạng và lối hành xử như vậy là điều không thể chấp
nhận được, vì đã đặt một số quan điểm chính trị lên trên những
niềm xác tín sâu xa của chúng ta: phẩm giá không thể tước bỏ
của mỗi người, bất kể nguồn gốc, chủng tộc hay tôn giáo, và
luật tối thượng của tình yêu thương huynh đệ.
40. “Hơn bao giờ hết những cuộc di cư sẽ đóng vai trò quyết
định cho tương lai thế giới”[42]. Nhưng ngày nay, tình trạng di
cư bị tác động bởi “việc ‘đánh mất cảm thức trách nhiệm sống
tình huynh đệ’, vốn là nền tảng cho mọi xã hội dân sự”[43].
Châu Âu, chẳng hạn, rất có nguy cơ đi vào con đường này. Tuy
nhiên, “nhờ di sản vĩ đại về văn hóa và tôn giáo, châu Âu có đủ
điều kiện để bảo vệ vị thế trung tâm của con người, đồng thời
tìm được sự cân bằng đúng đắn giữa hai khía cạnh của trách
nhiệm đạo đức đó là vừa bảo vệ quyền công dân, vừa bảo đảm
hỗ trợ và đón nhận di dân”[44].
41. Tôi biết một số người còn nghi ngại và sợ hãi di dân. Tôi
xem đây là một phần của bản năng tự vệ chính đáng của con
người tự nhiên. Tuy nhiên, đúng là một cá nhân hay một dân
tộc chỉ đơm hoa kết trái nếu họ có khả năng mở ra với người
khác hay với dân tộc khác cách sáng tạo. Tôi mời gọi mỗi người
hãy vượt qua những phản ứng nguyên sơ ấy bởi lẽ “vấn đề là
nỗi nghi ngờ và sợ hãi điều khiển cách suy nghĩ và hành động
của chúng ta, đến nỗi khiến chúng ta không khoan dung, khép
kín và thậm chí không nhận ra mình đang phân biệt đối xử với
người di dân. Như thế, sự sợ hãi tước đi trong chúng ta ước
muốn và khả năng gặp gỡ người khác”[45].ẢO TƯỞNG TRUYỀN THÔNG
42. Thật nghịch lý, khi chúng ta càng khép kín với người khác
bằng thái độ co cụm và bất khoan dung, thì khoảng cách với
người khác lại càng thu hẹp hoặc biến mất đến nỗi không còn
quyền riêng tư. Mọi sinh hoạt trở thành cảnh trình chiếu có thể
theo dõi, kiểm soát và cuộc sống ngày đêm liên tục bị giám sát.
Truyền thông kỹ thuật số muốn phơi bày mọi sự, đời sống cá
nhân bị soi mói, lột trần và bình phẩm, thường là nặc danh.
Lòng tôn trọng người khác không còn nữa, thế nên ngay cả khi
chúng ta quay mặt, phớt lờ hay giữ khoảng cách với người khác,
chúng ta vẫn không chút xấu hổ soi mói từng chi tiết đời tư của
họ.
43. Mặt khác, các chiến dịch truyền thông kỹ thuật số gây thù
hận và triệt hạ không phải là hình thức tương trợ đáng ca ngợi
như một số người vẫn nghĩ, nhưng chỉ là chuyện các cá nhân
liên kết chống lại kẻ thù chung. Hơn nữa, “các phương tiện
truyền thông kỹ thuật số có thể khiến con người bị lệ thuộc, cô
lập và mất dần sự tiếp xúc với đời sống thực tế cụ thể, và như
thế chúng cản trở sự phát triển của các mối quan hệ đích thực
giữa người với người”[46]. Nhất thiết phải có những cử chỉ thể
lý, những biểu cảm trên khuôn mặt, những khoảnh khắc thinh
lặng, ngôn ngữ cơ thể, kể cả mùi hương, tay run, mặt đỏ, mồ
hôi đổ..., vì tất cả những tiểu tiết này đều nói lên điều gì đó và là
một phần trong giao tiếp giữa con người với nhau. Các mối
tương quan ảo của kỹ thuật số, không đòi hỏi những nỗ lực vun
đắp tình thân, không dựa trên sự hỗ tương bền vững, cũng
không xây dựng trên sự hòa hợp gắn bó theo năm tháng, thực
chất chỉ là những mối tương quan mang dáng vẻ thân thiện bề
ngoài mà thôi. Chúng không thực sự xây dựng cái chung,
nhưng có xu hướng che giấu và thổi phồng chủ nghĩa cá nhân,
thể hiện qua thái độ bài ngoại và khinh miệt những người yếu
đuối dễ bị tổn thương. Chỉ có kết nối kỹ thuật số thì không đủ để
bắc những nhịp cầu, không đủ để hợp nhất nhân loại.
Hung hăng vô liêm sỉ44. Ngay khi duy trì cho bản thân lối sống tiêu thụ thoải mái,
người ta đã chọn cho riêng mình cách thức giao tiếp có tính
nhất quán và ngông cuồng nhằm cổ võ cho vô vàn hình thức
thù nghịch, lăng mạ, bạc đãi, phỉ báng và bạo ngôn nhằm hủy
diệt người khác, với việc không cần phải kiềm chế như phải làm
trong giao tiếp thể lý, rốt cuộc tất cả chúng ta sẽ đi đến hủy diệt
lẫn nhau. Qua máy điện toán và các thiết bị di động, tính hung
hăng gây hấn mang chiều kích xã hội tìm được môi trường
thuận lợi hơn bao giờ hết để phát huy tác hại của nó.
45. Điều này cho phép các ý thức hệ không còn phải e dè. Mới
ít năm trước đây, những điều người ta không thể nói ra vì có
nguy cơ bị khinh khi thì bây giờ có thể nói một cách sống sượng
mà không bị lên án, ngay cả bởi một số chính trị gia. Đừng quên
rằng “nhiều hoạt động nhằm lợi ích kinh tế khổng lồ đang diễn
ra trong thế giới kỹ thuật số. Chúng có khả năng cài đặt những
hình thức kiểm soát tinh vi rộng khắp, tạo ra những cơ chế
nhằm thao túng lương tâm của nhiều cá nhân và tiến trình dân
chủ của nhiều dân tộc. Việc có nhiều diễn đàn vận hành, rốt
cuộc sẽ tạo điều kiện để những người có lối nghĩ giống nhau
gặp nhau, và như thế làm mất đi cơ hội đối chiếu các khác biệt.
Những vòng khép kín này tạo thuận lợi cho việc phát tán thông
tin giả mạo và tin tức sai lệch, đồng thời nuôi dưỡng thành kiến
và lòng hận thù”[47].
46. Cần phải nhìn nhận rằng các hình thức cuồng tín có tính
phá hoại, cũng thấy xuất hiện nơi các tín đồ tôn giáo, ngay cả
các Kitô hữu. Các Kitô hữu cũng “có thể bị cuốn vào mạng lưới
bạo lực bằng ngôn từ qua internet và các diễn đàn truyền thông
kỹ thuật số khác nhau. Ngay cả trong các phương tiện truyền
thông Công giáo, các giới hạn có thể bị vượt qua, phỉ báng và
vu khống có thể trở nên như cơm bữa, và mọi tiêu chuẩn đạo
đức cùng sự tôn trọng danh tiếng của người khác có thể bị gạt
đi”[48]. Thế thì làm sao có thể góp phần xây dựng tình huynh đệ
mà Cha Chung Trên Trời đòi hỏi nơi chúng ta được?
Thông tin thiếu khôn ngoan47. Sự khôn ngoan đích thực đòi hỏi phải gặp gỡ thực tại. Tuy
nhiên, ngày nay mọi thứ đều có thể được chế tác, giấu giếm và
sửa đổi. Thế nên việc gặp gỡ trực tiếp những giới hạn của thực
tại trở nên không thể chấp nhận. Vì vậy, một cơ chế “chọn lựa”
được thiết lập để qua đó tôi có thể lập tức tách biệt điều yêu
thích khỏi điều không ưa, điều hứng thú với điều gây khó chịu.
Tương tự như thế, chúng ta chọn người cùng chia sẻ thế giới
của mình. Còn những người hoặc những hoàn cảnh làm chúng
ta khó chịu hay không vừa ý, ngày nay chúng ta chỉ cần loại bỏ
họ khỏi mạng ảo là xong; từ đó hình thành một thế giới ảo khiến
chúng ta bị cô lập ngay trong thế giới thực chúng ta đang sống.
48. Nét đặc thù trong các cuộc gặp gỡ liên vị là khả năng ngồi
xuống và lắng nghe người khác; khả năng này là khuôn mẫu
cho thái độ chào đón của người vượt qua chính mình và chấp
nhận người khác, quan tâm đến họ và mời họ đi vào trong cuộc
đời mình. Tuy nhiên, “thế giới ngày nay phần lớn là thế giới của
người khiếm thính... Đôi khi, sự vội vã và cuồng loạn của thế
giới hiện đại cản trở chúng ta để ý lắng nghe người khác.
Chúng ta ngắt lời và phản bác khi họ chưa dứt lời. Xin đừng
đánh mất khả năng biết lắng nghe”. Thánh Phanxicô “đã lắng
nghe tiếng Chúa và tiếng người nghèo khổ, đã lắng nghe tiếng
người đau bệnh và cả tiếng thiên nhiên. Ngài đã biến đổi lắng
nghe trở thành một phong cách sống. Tôi ước ao hạt giống mà
thánh Phanxicô đã gieo vãi được lớn lên trong tâm hồn nhiều
người”[49].
50. Trong đối thoại, dù nhẹ nhàng trao đổi hay sôi nổi tranh cãi,
chúng ta đều có thể cùng nhau tìm kiếm sự thật. Điều này đòi
hỏi phải bền tâm, cũng như đòi hỏi những phút giây lặng thinh
và gian khổ, có khả năng kiên trì đón nhận vô vàn kinh nghiệm
của các cá nhân và các dân tộc. Thông tin tràn ngập không
khiến chúng ta thông thái hơn. Sự khôn ngoan không phát sinh
từ những cái nhấp chuột tìm kiếm chớp nhoáng trên internet,
cũng không là một khối dữ liệu chưa được kiểm chứng. Đó
không phải là phương cách để sự khôn ngoan được chín muồi
khi gặp gỡ sự thật. Tóm lại, các cuộc trò chuyện chỉ luẩn quẩnvới những dữ kiện mới nhất, chỉ ở tầm mức là là mặt đất và
chất đống thông tin. Chúng ta không tập trung chú ý, không đi
sâu vào trọng tâm vấn đề và không nhận ra đâu là điều thiết yếu
giúp cho cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa. Do đó, tự do trở
nên một thứ ảo tưởng được rao bán cho chúng ta, dễ bị nhầm
lẫn với việc tự do truy cập internet. Tiến trình xây dựng tình
huynh đệ, dù mang tính địa phương hay phổ quát, chỉ có thể
được thực hiện nhờ tinh thần tự do và cởi mở hướng tới những
cuộc gặp gỡ đích thực.
CÁC HÌNH THỨC LỆ THUỘC VÀ TỰ TI
51. Một số quốc gia kinh tế thịnh vượng có xu hướng đặt mình
làm mô hình văn hóa cho các nước kém phát triển, thay vì làm
cho mỗi nước có thể phát triển theo cách của mình, cũng như
có thêm khả năng canh tân đất nước trong khi vẫn bảo tồn
được các giá trị văn hóa riêng. Việc hoài cổ hời hợt và bi quan
vốn dẫn đến thói sao chép và mua sắm thay vì sáng tạo, sẽ
khiến các dân tộc trở nên tự ti. Giới thượng lưu tại các nước
nghèo và đôi khi tại các quốc gia vừa mới thoát nghèo, thường
không chấp nhận cách nghĩ và cách làm của người bản xứ,
cũng như có xu hướng xem thường bản sắc văn hóa dân tộc,
như thể đấy là nguyên nhân duy nhất của mọi điều tệ hại.
52. Tiêu diệt lòng tự hào là cách dễ dàng để thống trị người
khác. Phía sau những xu hướng san bằng thế giới, là các lợi ích
của giới quyền lực, muốn lợi dụng sự tự ti của dân chúng, để
hình thành một nền văn hóa mới phục vụ giới tinh hoa, nhờ các
phương tiện truyền thông và mạng internet. Chỉ những kẻ cơ
hội chuyên đầu cơ tài chính và những kẻ bóc lột là được hưởng
lợi, còn người nghèo thì luôn thua thiệt. Mặt khác, nhiều nhà
lãnh đạo chính trị vì xem thường văn hóa dân tộc bản địa nên
khó có thể đưa ra những kế hoạch phát triển hiệu quả được mọi
người tự giác hưởng ứng và ủng hộ dài lâu.
53. Chúng ta quên rằng “không có sự tha hóa nào tồi tệ hơn là
cảm thấy mình bị mất cội nguồn, không thuộc về ai cả. Một lãnh
thổ có phì nhiêu hoặc một dân tộc có sinh hoa kết trái và xâydựng được tương lai hay không, tùy thuộc vào việc các thành
viên của dân tộc đó có cảm thấy thuộc về nhau, các thế hệ và
các cộng đồng trong đó có mối dây liên kết hòa hợp, đồng thời
có tránh được tất cả những gì khiến người ta vô cảm với nhau
và đưa đến tha hóa hơn hay không”[50].
NIỀM HY VỌNG
54. Bất chấp những đám mây đen mà chúng ta không được coi
nhẹ như đã kể trên, trong phần tiếp theo, tôi muốn gợi lên
những nẻo đường hy vọng mới. Quả thật, Thiên Chúa vẫn tiếp
tục vãi gieo những hạt giống tốt trong gia đình nhân loại. Cơn
đại dịch gần đây, lần nữa, lại cho phép chúng ta nhận ra và cảm
kích vì nhiều người quanh ta, dẫu có sợ hãi, vẫn sẵn sàng dấn
thân chấp nhận rủi ro nguy hiểm. Chúng ta bắt đầu hiểu ra rằng
cuộc sống của chúng ta được đan dệt và đỡ nâng bởi những
con người bình thường nhưng dũng cảm, chính họ đã viết nên
những trang sử quyết định của nhân loại: các bác sĩ, y tá, dược
sĩ, chủ tiệm, nhân viên siêu thị, công nhân vệ sinh, nhân viên
điều dưỡng, tài xế chuyên chở, nhân viên nam nữ phục vụ các
dịch vụ thiết yếu và an toàn công cộng, các tình nguyện viên,
linh mục và tu si... Họ hiểu rằng không ai được cứu một
mình[51].
55. Tôi mời gọi mọi người hãy canh tân niềm hy vọng, vì hy
vọng “nói với chúng ta về một thực tại bám rễ sâu trong thâm
tâm mỗi người, chứ không phụ thuộc vào hoàn cảnh và điều
kiện lịch sử ta đang sống. Hy vọng nói với chúng ta về lòng khát
khao, về nguyện vọng, về nỗi ước ao có một cuộc sống viên
mãn, về sự mong muốn đạt tới những điều vĩ đại, những gì lấp
đầy trái tim và nâng cao tinh thần hướng tới những thực tại cao
cả như chân, thiện, mỹ, công bằng và yêu thương... Hy vọng thì
táo bạo, dám ra khỏi những tiện nghi cá nhân, những an toàn
và thưởng phạt nhỏ nhoi thường giới hạn chân trời của chúng
ta, hy vọng mở ra cho chúng ta những lý tưởng cao cả khiến
cuộc sống trở nên tươi đẹp và đáng giá hơn”[52]. Vì thế, hãy
tiếp tục tiến bước trên các nẻo đường hy vọng.CHƯƠNG HAI:
MỘT NGƯỜI XA LẠ TRÊN ĐƯỜNG
56. Tất cả những gì tôi đã đề cập ở chương trước không nên
xem như một mô tả lạnh lùng tách biệt khỏi thực tại, bởi lẽ “vui
mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay,
nhất là của người nghèo và bất cứ ai đang đau khổ, cũng là vui
mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô,
và không có gì thực sự là của con người mà họ lại không cảm
nhận trong đáy lòng họ”[53]. Trong nỗ lực tìm kiếm ánh sáng soi
chiếu cho những gì chúng ta đang trải qua, và trước khi đưa ra
vài đề nghị thực hành, tôi muốn dành một chương cho dụ ngôn
mà Chúa Giêsu đã kể cách đây hai ngàn năm. Tôi muốn làm
thế, mặc dù Thông điệp này được gởi đến mọi người thành tâm
thiện chí, không phân biệt niềm tin tôn giáo, vì câu chuyện trong
dụ ngôn có liên quan đến mỗi người và chất vấn từng người
chúng ta.
“Và này có người thông luật kia đứng lên hỏi Chúa Giêsu để
thử Người rằng: ‘Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống
đời đời làm gia nghiệp?' Người đáp: ‘Trong Luật đã viết gì?
Ông đọc thế nào?' Ông ấy thưa: ‘Ngươi phải yêu mến Đức
Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức
lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như
chính mình'. Đức Giêsu bảo ông ta: ‘Ông trả lời đúng lắm. Cứ
làm như vậy là sẽ được sống'. Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ
là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giêsu rằng: ‘Nhưng ai là
người thân cận của tôi?' Đức Giêsu đáp: ‘Một người kia từ
Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp.
Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người
ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống
trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên
kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy,
cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Samari kia đi
đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng
thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho
người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa củamình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai
quan tiền, trao cho chủ quán và nói: ‘Nhờ bác săn sóc cho
người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi
sẽ hoàn lại bác.' Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ
ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?'
Người thông luật trả lời: ‘Chính là kẻ đã thực thi lòng thương
xót đối với người ấy'. Đức Giêsu bảo ông ta: ‘Ông hãy đi, và
cũng hãy làm như vậy'” (Lc 10,25-37).
Bối cảnh
57. Dụ ngôn này được đặt trong một bối cảnh rất xa xưa. Ngay
sau trình thuật về việc sáng tạo vạn vật và con người, Kinh
Thánh nói đến mối liên hệ giữa con người với nhau. Cain giết
Abel em trai mình, sau đó Thiên Chúa hỏi: “Abel em ngươi đâu
rồi?” (St 4,9). Câu trả lời của Cain thường cũng chính là câu trả
lời của chúng ta: “Con là người giữ em con hay sao?” (nt.). Khi
đặt câu hỏi trên, Thiên Chúa không muốn con người nại đến
thuyết tiền định hay thuyết định mệnh hòng biện minh cho sự
thờ ơ của mình. Ngược lại, Người khuyến khích chúng ta xây
dựng một nền văn hóa khác có khả năng giải quyết các xung
đột và quan tâm đến nhau.
58. Sách Gióp coi việc chúng ta được dựng nên từ một Đấng
Tạo Hóa duy nhất là nền tảng cho một số quyền lợi chung:
“Đấng đã tạo ra tôi trong dạ mẹ không phải Đấng tạo ra nó hay
sao? Cũng một Thiên Chúa đã tạo ra chúng tôi hết thảy”
(G 31,15). Nhiều thế kỷ sau, thánh Irênê cũng nói tương tự khi
sử dụng ý tưởng giai điệu du dương: “Người tìm kiếm chân lý
không nên để mình bị đánh lừa bởi quãng cách các âm thanh
như thể chúng được tấu lên một cách riêng biệt, nốt này được
tạo nên bởi nghệ sĩ này, nốt kia được tạo nên bởi nghệ sĩ kia
không liên quan gì đến nhau; ngược lại, phải nhận ra rằng chỉ
duy nhất một người đã sáng tác toàn bộ giai điệu”[54].
59. Theo truyền thống Do Thái xưa kia, mệnh lệnh yêu thương
và quan tâm đến người khác dường như chỉ bó hẹp trong tương
quan giữa các người dân trong cùng một nước. Luật xưa dạyphải “yêu người thân cận như chính mình” (Lv 19,18) thường
được hiểu là yêu những người cùng một nước. Tuy nhiên, giới
hạn này ngày càng nới rộng, đặc biệt khi đạo Do Thái vượt khỏi
lãnh thổ Israel. Chúng ta thấy xuất hiện lệnh truyền đừng làm
cho người khác điều mình không muốn họ làm cho mình
(x. Tb 4,15). Vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, giáo sĩ
Hillel chú giải: “Đây là toàn bộ sách Luật và các Ngôn sứ. Các
điều khác chỉ là bình luận”[55]. Mong muốn bắt chước cách
hành động của Thiên Chúa dần dần thay thế xu hướng chỉ nghĩ
đến những người gần ta nhất: “Con người thì thương xót người
thân cận, còn Đức Chúa xót thương mọi xác phàm” (Hc 18,13).
60. Giáo huấn của Hillel được Kinh Thánh Tân Ước diễn tả
bằng những lời lẽ tích cực: “Vậy tất cả những gì anh em muốn
người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho
người ta, vì Luật Môsê và lời các ngôn sứ là thế đó” (Mt 7,12).
Mệnh lệnh này mang tính phổ quát, chung cho mọi người dựa
trên nhân tính, vì Cha trên trời “cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ
xấu cũng như người tốt” (Mt 5, 45). Vì vậy, có lời mời gọi: “hãy
có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36).
61. Trong các văn bản Kinh Thánh cổ xưa nhất, chúng ta tìm
thấy lý do tại sao phải mở rộng tâm hồn đón nhận người xa lạ.
Lý do này bắt nguồn từ ký ức vững bền của người Do Thái:
chính họ đã sống thân phận ngoại kiều bên Ai Cập:
“Người ngoại kiều, ngươi không được ngược đãi và áp bức, vì
chính các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai Cập” (Xh 22,20).
“Người ngoại kiều, các ngươi không được áp bức; chính các
ngươi đã biết thân phận của người ngoại kiều, vì các ngươi đã
là ngoại kiều ở đất Ai Cập” (Xh 23,9).
“Khi có ngoại kiều cư ngụ với các ngươi trong xứ các ngươi,
các ngươi đừng bức hiếp nó. Các ngươi phải đối xử với người
ngoại kiều cư ngụ với các ngươi như với một người bản xứ,
một người trong các ngươi; các ngươi phải yêu nó như chính
mình, vì các ngươi đã từng là ngoại kiều tại đất Ai Cập. Ta là
Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi” (Lv 19,33-34).“Khi hái nho, thì anh em không được mót lại; những trái còn
sót dành cho ngoại kiều và cô nhi quả phụ. Anh em hãy nhớ
mình đã làm nô lệ bên đất Ai Cập” (Đnl 24, 21-22).
Lời kêu gọi về tình huynh đệ dội vang trong toàn bộ Tân Ước:
“Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là:
Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Gl 5,14).
“Ai yêu thương anh em mình thì ở lại trong ánh sáng, và nơi
người ấy không có gì nên cớ vấp phạm. Nhưng ai ghét anh em
mình thì ở trong bóng tối và đi trong bóng tối mà chẳng biết
mình đi đâu, vì bóng tối đã làm cho mắt người ấy ra mù
quáng” (1 Ga 2,10-11).
“Chúng ta biết rằng: chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống,
vì chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu thương, thì ở lại
trong sự chết” (1 Ga 3,14).
“Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì
không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1
Ga 4,20).
62. Tuy nhiên, lời mời gọi yêu thương này có thể bị hiểu sai.
Không hề là chuyện nhỏ khi thánh Phaolô khuyến khích các
môn đệ của ngài sống tình yêu thương “đối với nhau và đối với
mọi người” (1 Tx 3,12) vì nhận thấy rằng các cộng đoàn Kitô
hữu tiên khởi đang bị cám dỗ muốn hình thành các nhóm khép
kín và tách biệt. Cũng vậy, cộng đoàn của thánh Gioan được
yêu cầu phải đón tiếp các anh em khác “dù họ là những người
xa lạ” (3 Ga 5). Bối cảnh này giúp chúng ta hiểu rõ hơn ý nghĩa
của dụ ngôn người Samari nhân hậu: tình yêu không phân biệt
người anh em khốn khó đến từ nơi này hay nơi kia. Bởi vì “tình
yêu phá tan xiềng xích trói buộc khiến chúng ta bị cô lập và chia
rẽ để từ đó xây nên những nhịp cầu. Tình yêu giúp chúng ta làm
nên một đại gia đình, nơi ai cũng cảm thấy như ở nhà mình...
Tình yêu ứa trào lòng thương xót và phẩm giá”[56].
Người bị bỏ rơi63. Đức Giêsu kể, có một người bị bọn cướp tấn công, gây
thương tích, nằm thoi thóp bên đường. Nhiều người đi qua,
nhưng không dừng lại. Đây là những người có địa vị trong xã
hội, nhưng thiếu tấm lòng chân thật chăm lo công ích. Họ không
thể dành vài phút để trợ giúp người bị nạn hoặc ít ra là kêu gọi
giúp đỡ. Nhưng có một người đã dừng lại, đến bên và đích thân
ra tay băng bó cho nạn nhân, lại còn bỏ tiền túi chi trả cho việc
chăm sóc anh. Nhất là đã cho anh điều mà trong thế giới xô bồ
này, chúng ta khư khư giữ lấy: thời giờ của mình. Chắc hẳn ông
đã có kế hoạch cho ngày hôm đó với những gì cần thực hiện,
những cuộc hẹn hoặc những gì ông muốn. Nhưng trước người
bị nạn, ông sẵn sàng gác lại tất cả và dù không quen biết, ông
thấy nên dành thời giờ cho anh.
64. Bạn đồng hóa mình với ai? Đây là câu hỏi thẳng thắn, trực
tiếp và sâu sắc. Trong những nhân vật này bạn giống ai? Chúng
ta phải nhận biết cơn cám dỗ dai dẳng đeo bám chúng ta, đó là
cơn cám dỗ không lưu tâm đến người khác, đặc biệt là những
người hèn yếu nhất. Quả thật, chúng ta đã tiến bộ trên nhiều
lĩnh vực, nhưng lại mù tịt về việc đồng hành, chăm sóc và hỗ trợ
những người yếu đuối và dễ bị tổn thương nhất trong xã hội
phát triển ngày nay. Chúng ta đã quen nhìn chỗ khác, bỏ qua và
không biết đến những hoàn cảnh chung quanh cho đến lúc
chúng trực tiếp chạm đến chúng ta.
65. Một người bị tấn công trên đường, thế mà nhiều người
ngoảnh mặt bỏ đi như không thấy gì. Thường có những người
lái xe gây tai nạn rồi bỏ chạy luôn. Việc quan trọng duy nhất đối
với họ là tránh rắc rối; ai đó có phải chết vì lỗi của họ, họ cũng
chẳng quan tâm. Nhưng đây là dấu chứng cho thấy có một lối
sống phổ biến được tỏ lộ bằng nhiều cách thế, có khi tinh tế khó
nhận biết hơn. Lại nữa, vì tất cả chúng ta đều tập trung lo cho
nhu cầu của mình, nên khi gặp ai đó đang đau khổ thì chúng ta
cảm thấy khó chịu, cảm thấy bị quấy rầy, bởi lẽ chúng ta không
muốn tốn thời giờ để dàn xếp những vấn đề của người khác.
Đó là triệu chứng của một xã hội đang đau bệnh, chỉ lo vun đắp
cho mình và quay lưng lại trước khổ đau của người khác.66. Đừng để mình bị rơi vào tình trạng khốn cùng đó. Chúng ta
hãy nhìn mẫu gương của người Samari tốt lành. Câu chuyện
này kêu mời chúng ta khơi lại ơn gọi của mình, ơn gọi là công
dân của đất nước mình và của toàn thế giới, những người xây
dựng mối tương quan xã hội mới. Lời kêu gọi này luôn luôn mới
mẻ, dù được trình bày như một luật cơ bản của con người: xã
hội phải theo đuổi sự thăng tiến công ích và khởi đi từ mục đích
này, phải không ngừng tái thiết trật tự chính trị xã hội, xây dựng
các mối tương quan và các mục tiêu nhân bản của mình. Bằng
hành động, người Samari tốt lành đã chứng tỏ rằng “sự hiện
hữu của mỗi người chúng ta có mối liên kết sâu xa với sự hiện
hữu của những người khác: cuộc đời không phải là thời gian
trôi qua, nhưng là thời gian gặp gỡ”[57].
67. Dụ ngôn này phác họa một hình ảnh chói lòa soi chiếu sự
chọn lựa cơ bản mà chúng ta phải thực hiện để tái thiết thế giới
đau thương này. Đối mặt với bao nỗi đau, với những vết thương,
lối thoát duy nhất là làm như người Samari tốt lành. Mọi chọn
lựa khác sẽ dẫn ta hoặc về phía bọn cướp, hoặc về phía những
người bỏ đi, không xót thương trước nỗi khổ đau của nạn nhân
đang quằn quại bên đường. Dụ ngôn chỉ cho chúng ta thấy
cách thức xây dựng lại cộng đồng, khởi đi từ những con người
biết đồng cảm với các yếu nhược của người khác, không chấp
nhận một xã hội loại trừ, nhưng vì thiện ích chung, sẵn sàng
đến bên, nâng dậy và phục hồi người quỵ ngã. Đồng thời, dụ
ngôn còn cảnh giác chúng ta tránh thái độ của những người chỉ
biết lo cho bản thân mà không chịu gánh vác những trách nhiệm
không thể thoái thác của cuộc sống mỗi ngày.
68. Rõ ràng câu chuyện không đưa ra một huấn dụ về những lý
tưởng trừu tượng, cũng không thu hẹp chỉ còn là một bài học
luân lý đạo đức xã hội, nhưng bày tỏ cho chúng ta thấy yếu tính
đặc trưng của con người mà chúng ta thường lãng quên: chúng
ta được dựng nên để sống sung mãn, là điều chỉ đạt được trong
tình yêu. Dửng dưng trước đau khổ của người khác không thể
là một chọn lựa; không thể để ai đó cứ ở mãi “bên lề cuộc đời”.
Lẽ ra điều này phải khiến chúng ta phẫn nộ đến nỗi không cònthanh thản, bởi lẽ chúng ta trăn trở trước nỗi đau của con người.
Đó mới chính là ý nghĩa của phẩm giá!
Một câu chuyện được tái diễn
69. Dụ ngôn rõ ràng, dễ hiểu, nhưng cũng gợi lên cuộc đấu
tranh nội tâm mà mỗi người chúng ta cảm nghiệm khi dần dần
khám phá chính mình qua các mối tương quan với anh chị em.
Trên đường, chắc chắn chúng ta sẽ gặp những con người bị tổn
thương. Thời nay số người bị tổn thương ngày càng nhiều. Việc
tiếp nhận hay loại trừ những con người đáng thương bên
đường có thể xem như tiêu chuẩn để đánh giá mọi dự án kinh
tế, chính trị, xã hội và tôn giáo. Hằng ngày chúng ta phải quyết
định chọn làm người Samari tốt lành hoặc làm người bộ hành
dửng dưng ngoảnh mặt bỏ đi. Và nếu chúng ta chịu khó nhìn lại
trọn cuộc đời mình cũng như toàn bộ lịch sử thế giới, chúng ta
sẽ nhận ra tất cả chúng ta đều là hoặc đã là những nhân vật
này: tất cả chúng ta đều có chút gì đó của người bị thương tích,
chút gì đó của kẻ cướp, chút gì đó của người quay mặt bỏ đi và
chút gì đó của người Samari tốt lành.
70. Điều gây ấn tượng là tính cách của các nhân vật trong câu
chuyện thay đổi hoàn toàn khi họ đối diện với tình cảnh khốn
khổ của người nằm trên đường, của người bị hạ thấp. Không
còn sự phân biệt giữa dân Giuđê với dân Samari, không còn
vấn đề là vị tăng lữ hay gã lái buôn; đơn giản chỉ còn hai hạng
người: người gánh lấy nỗi đau và người bỏ đi qua; người cúi
xuống giúp đỡ và người quay mặt vội vã bỏ đi. Thật vậy, nhiều
thứ mặt nạ, nhãn mác và áo xống lố lăng của chúng ta rơi
xuống: Đó là thời khắc của sự thật! Chúng ta có cúi xuống,
chạm đến và chăm sóc vết thương của người khác hay không?
Chúng ta có cúi xuống, mang vác người này hoặc kẻ khác trên
vai hay không? Đây là thách đố thời sự, chúng ta cần phải
đương đầu mà không sợ hãi. Trong khi khủng hoảng, việc chọn
lựa trở nên cấp bách: chúng ta có thể nói rằng trong hoàn cảnh
như thế, nếu không là kẻ cướp hoặc không là người bỏ đi qua,
thì cũng sẽ là người bị thương hoặc là người vác người bị
thương lên vai.71. Câu chuyện người Samari tốt lành vẫn tái diễn. Thật vậy,
câu chuyện đó ngày càng trở nên hiển nhiên khi sự trì trệ xã hội
chính trị biến nhiều vùng lãnh thổ trên thế giới thành những con
đường hiu quạnh, nơi các cuộc nội chiến và xung đột quốc tế
cùng với việc cướp phá các phương tiện sinh sống khiến cho
nhiều người bị loại ra bên lề và bị bỏ lại bên đường. Trong dụ
ngôn, Đức Giêsu không đưa ra giả thiết này hay giả thiết khác,
kiểu như: điều gì sẽ xảy ra cho người bị thương trầm trọng,
hoặc cho người đã giúp đỡ nạn nhân, nếu cơn phẫn nộ hoặc
ước muốn báo thù xâm chiếm lòng họ? Ngài tin vào điều tốt
nhất nơi thâm tâm con người và qua dụ ngôn, Ngài khích lệ họ
cứ kiên vững trong tình yêu, hãy phục hồi những ai đau khổ và
xây dựng một xã hội xứng đáng với tên gọi này.
Các nhân vật
72. Dụ ngôn bắt đầu bằng vài câu ngắn gọn về bọn cướp. Đức
Giêsu chọn cách bắt đầu câu chuyện khi vụ cướp đã xảy ra, để
chúng ta khỏi tập trung chú ý vào tội ác hoặc vào những kẻ
cướp thủ ác. Chúng ta đã biết rõ những chuyện đó. Chúng ta đã
thấy lan tràn trên khắp thế giới bóng đêm dày đặc của sự ruồng
bỏ, của bạo động nhằm phục vụ những lợi ích đê tiện của
quyền lực, của tham lam và chia rẽ. Vấn nạn có thể là thế này:
chúng ta có bỏ người bị thương nằm lại trên đường, để rồi mỗi
người chạy trốn, tìm nơi ẩn núp tránh bạo lực hoặc để truy đuổi
theo bọn cướp hay không? Chúng ta có dùng người bị thương
để biện minh cho sự chia rẽ không thể hàn gắn, của sự vô cảm
độc ác, của những xung đột nội bộ giữa chúng ta hay không?
73. Thế rồi, dụ ngôn cho chúng ta cái nhìn thẳng thắn về những
người quay mặt bỏ đi. Không biết có vô tội hay không, không
biết là do khinh bỉ hoặc vì lơ đãng, dẫu sao thái độ vô tư đáng
sợ của các nhân vật như thầy tư tế và thầy Lêvi khi băng qua
bên kia đường cũng trở thành một phản ảnh đáng buồn về
khoảng cách giữa chúng ta và thế giới nơi chúng ta đang sống.
Có nhiều cách thể hiện thái độ quay mặt bỏ đi: một mặt là co
cụm chỉ lo cho mình, thờ ơ, vô cảm, không quan tâm đến người
khác. Mặt khác là chỉ nhìn ra bên ngoài, là vọng ngoại như xảyra tại một số quốc gia hoặc một số khu vực, ở đó người nghèo
và văn hóa người nghèo bị khinh miệt, ở đó xuất hiện một lối
sống đặc trưng vọng ngoại, dường như có ý áp đặt một mô hình
xã hội ngoại nhập. Thế nên, một số người có thể biện minh cho
sự vô cảm của họ, bởi vì những người hay yêu sách này nọ và
có thể khiến họ động lòng, đơn giản là không tồn tại. Những
người ấy không thuộc phạm vi họ quan tâm.
74. Trong những người quay mặt bỏ đi, có một chi tiết đáng chú
ý: họ là những tín đồ tôn giáo, và hơn thế, là những chức sắc
tôn giáo, chuyên lo việc tế tự thờ phượng Thiên Chúa: một thầy
tư tế, một thầy Lêvi. Đây là lời cảnh báo mạnh mẽ: việc tin vào
Thiên Chúa và tôn thờ Ngài không bảo đảm cho việc sống theo
ý muốn của Ngài. Một người có niềm tin có thể không trung
thành với tất cả những gì niềm tin này đòi hỏi, thế nhưng, lại có
thể cảm thấy gần gũi Thiên Chúa và nghĩ rằng mình xứng đáng
hơn những người khác. Nhưng vẫn có những cách sống niềm
tin tạo thuận lợi cho việc mở lòng ra với anh em; và sống như
thế mới bảo đảm cho việc thực sự mở lòng ra với Thiên Chúa.
Thánh Gioan Kim khẩu còn đi đến chỗ diễn tả hết sức sáng sủa
thách đố này của các Kitô hữu: “Bạn muốn tôn kính thân thể
Đức Kitô ư? Chớ khinh chê thân thể ấy khi thân thể ấy trần trụi.
Đừng tôn kính thân thể Người, theo kiểu: trong nhà thờ thì cho
Người mang những y phục lụa là gấm vóc, nhưng ở ngoài lại
coi thường, để cho thân thể ấy phải lạnh giá và trần trụi”[58].
Điều ngược đời là đôi khi những người quả quyết mình không
tin lại có thể chu toàn ý muốn của Thiên Chúa hơn những người
tin.
75. Đồng minh bí mật của “bọn cướp đường” thường là những
kẻ “quay mặt bỏ đi”. Vòng tròn đồng minh đó được khép kín
giữa những kẻ khuynh đảo lừa dối xã hội để trục lợi với những
người tin rằng mình vẫn trong sạch khi thi hành trọng trách của
mình, nhưng đồng thời lại sống nhờ vào hệ thống này và hưởng
những bổng lộc của nó. Có một kiểu đạo đức giả đáng buồn
trong việc dung túng cho tội ác, dung túng cho các cá nhân
hoặc tập đoàn sử dụng các định chế để trục lợi và những tệ nạnkhác không thể diệt trừ, đi đôi với việc làm tha hóa tất cả, với
việc không ngừng gieo rắc nghi ngờ khiến người ta bối rối
hoang mang và không còn tin nhau nữa. Đáp lại lời phàn nàn
“mọi thứ đều tồi tệ”, người ta bảo: “chẳng ai có thể sửa chữa
được” hoặc “tôi thì có thể làm gì được?”. Và như thế người ta
ngày càng vỡ mộng và tuyệt vọng, tình trạng này không khích lệ
tinh thần liên đới và quảng đại. Nhận chìm một dân tộc trong
chán nản là khép kín một vòng tròn tai quái hoàn hảo: đó chính
là cách các nền chuyên chính độc tài vô hình của những quyền
lợi giấu mặt và có thực đang vận hành nhằm chiếm hữu các
nguồn tài nguyên cũng như khả năng phán đoán và suy tư của
con người.
76. Cuối cùng chúng ta hãy nhìn đến người bị thương tích. Đôi
khi chúng ta cảm thấy mình cũng như người ấy, mang thương
tích trầm trọng, đang rên rỉ nằm bên đường. Chúng ta cũng cảm
thấy bị bỏ rơi do các định chế của chúng ta thì thiếu sót và vô
hiệu, hoặc chỉ phục vụ lợi ích của một thiểu số, bên trong và
bên ngoài. Thật vậy, “trong xã hội toàn cầu hóa, người ta
thường lịch sự quay nhìn về phía khác: dưới lớp vỏ bọc chính trị
đúng đắn hoặc các ý thức hệ, họ nhìn người đau khổ mà không
chạm tới, chỉ thấy người đau khổ trên truyền hình trực tiếp, và
thậm chí còn dùng kiểu nói với nhiều uyển ngữ và đầy vẻ khoan
dung[59].
Bắt đầu lại
77. Mỗi ngày chúng ta có được một thời cơ mới, bắt đầu một
chặng đường mới. Đừng chờ đợi mọi thứ từ nhà cầm quyền, vì
như thế là ấu trĩ. Chúng ta có một không gian đồng trách nhiệm
để có thể bắt đầu và tạo ra các tiến trình và những thay đổi.
Chúng ta hãy là những người chủ động trong việc phục hồi và
hỗ trợ những tầng lớp xã hội bị tổn thương. Ngày nay, chúng ta
có thời cơ thuận tiện để chứng tỏ rằng tự bản chất chúng ta là
anh chị em với nhau, để trở thành những người Samari tốt lành
nhận về mình nỗi đau của người khác, thay vì kích động hận
thù và oán giận. Tựa như người bộ hành trong dụ ngôn tình cờ
đi qua, chúng ta chỉ cần để mình được thúc đẩy bởi ước muốntự nhiên, trong sáng và đơn giản, là làm nên một dân tộc, là
miệt mài dấn thân giúp cho người quỵ ngã bên đường được
đón nhận, được hội nhập và được nâng dậy; mặc dù nhiều lần
chúng ta cảm thấy hết chịu nổi, muốn dùng đến lý lẽ của những
kẻ ưa bạo lực, nuôi tham vọng mù quáng, chuyên gieo rắc ngờ
vực và dối trá. Mặc cho bao người khác vẫn tiếp tục xem chính
trị hoặc kinh tế như vũ đài để tranh giành quyền lực. Còn chúng
ta, hãy cổ võ thiện ích và hãy phục vụ thiện ích!
78. Chúng ta có thể bắt đầu từ dưới lên với từng trường hợp
thật cụ thể, trước hết ở quy mô địa phương, rồi dần dần lan
rộng khắp nước, cho đến tận cùng thế giới, và như người bộ
hành Samari hãy quan tâm chăm sóc từng vết thương của
người bị nạn. Hãy tìm kiếm những người bị nạn khác và đón
nhận những thực tại đó, đừng sợ đau khổ cũng đừng sợ sẽ
không kham nổi, vì chính lúc đó chúng ta sẽ nhận ra tất cả
những gì tốt lành Thiên Chúa đã gieo trồng nơi tâm hồn con
người. Những khó khăn tưởng chừng quá sức sẽ là cơ hội phát
triển chứ không là duyên cớ cho tình trạng trì trệ đáng buồn, dễ
đưa đến thái độ buông xuôi phục tùng. Tuy nhiên, đừng làm một
mình, kiểu cá nhân đơn độc. Người Samari đã tìm được một
chủ nhà trọ có thể chăm sóc cho nạn nhân. Chúng ta cũng thế,
chúng ta được mời gọi huy động nhau để kết liên thành một cái
“chúng ta”, chắc hẳn sẽ hùng mạnh hơn tổng số những cá nhân
lẻ loi nhỏ bé. Hãy nhớ rằng “toàn thể lớn hơn thành phần và
cũng lớn hơn tổng số các thành phần”[60]. Hãy từ bỏ thói nhỏ
nhen và nỗi oán hận mang tính cục bộ vô bổ, không ngừng đối
kháng. Hãy thôi che đậy nỗi thống khổ do những sai lầm mình
gây ra đồng thời thừa nhận các tội ác, sự lãnh đạm và dối trá
của chính mình! Việc hòa giải và chữa lành sẽ mang lại cho
chúng ta cũng như những người khác một cuộc sống mới,
không còn sợ hãi nữa.
79. Người Samari rời quán trọ không mong có ai biết tới cũng
không chờ một lời tri ân nào. Trước mặt Thiên Chúa và lương
tâm của mình, ông cảm thấy vô cùng mãn nguyện vì đã tận tâm
phục vụ, đây là bổn phận. Tất cả chúng ta đều có trách nhiệmđối với người bị thương, là chính dân tộc mình và mọi dân tộc
trên trái đất này. Cũng với thái độ liên đới, quan tâm và gần gũi
của người Samari tốt lành, chúng ta hãy chăm sóc những
thương tích yếu đau của mọi người, người lớn, trẻ em và người
cao tuổi.
Người thân cận không kể biên giới
80. Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn này để trả lời cho một câu hỏi: ai
là người thân cận của tôi? Trong xã hội thời Chúa Giêsu cụm từ
“người thân cận” thường dùng để chỉ người gần nhất, người
láng giềng. Người ta dành sự giúp đỡ trước hết là cho những
người cùng nhóm, cùng chủng tộc với mình. Với cái nhìn của
một số người Do Thái thời đó, những người Samari thì đáng
khinh và ô uế, không được kể vào số những người thân cận
phải trợ giúp. Là người Do Thái, Đức Giêsu đảo ngược hoàn
toàn cách tiếp cận này: Ngài không mời gọi chúng ta đặt câu hỏi
ai là người thân cận của chúng ta, nhưng mời gọi chúng ta trở
thành người gần gũi, người thân cận của mọi người.
81. Điều Ngài đề nghị đó là hãy hiện diện bên cạnh người đang
cần trợ giúp, không bận tâm thắc mắc người ấy có cùng nhóm
với ta hay không. Trong trường hợp này, chính người Samari
đã làm cho mình trở thành người thân cận của người Do Thái bị
thương. Để đến bên người bị nạn, ông đã vượt qua mọi rào cản
văn hóa và lịch sử. Chúa Giêsu kết luận dụ ngôn bằng một yêu
cầu: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (Lc 10,37). Nói
cách khác, Ngài đòi buộc chúng ta hãy bỏ qua mọi khác biệt và
đứng trước nỗi đau hãy trở nên thân cận với mọi người. Do đó,
tôi không còn nói rằng tôi có những “người thân cận” phải giúp
đỡ, nhưng đúng hơn phải nói rằng tôi cảm thấy được kêu gọi
trở nên người thân cận với những người khác.
82. Vấn đề Đức Giêsu cố ý nhấn mạnh đó là người bị thương là
người Do Thái - dân cư xứ Giu-đê - trong khi người dừng lại để
trợ giúp là người Samari - dân cư xứ Samari. Chi tiết này đặc
biệt quan trọng giúp suy tư về một tình yêu mở rộng đến mọi
người. Những người Samari sống trong vùng có sự thâm nhậpcủa các nghi lễ ngoại giáo, và dưới mắt người Do Thái, điều đó
khiến họ trở thành ô uế, đáng ghê tởm, nguy hiểm. Thực vậy,
một bản văn cổ Do Thái đề cập đến các dân bị ghét bỏ, có nói
về Samari, thậm chí còn khẳng định đó không phải là một dân
(x. Hc 50,25); và sau đó còn thêm “đám dân ngu xuẩn ở vùng
Si-khem” (c. 26).
83. Điều này giải thích tại sao khi Chúa Giêsu xin một phụ nữ
Samari nước uống, chị đã cắc cớ hỏi lại: “Ông là người Do Thái
mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari cho ông nước uống sao?”
(Ga 4,9). Lời cáo buộc xúc phạm nhất mà những người tìm
cách bôi nhọ Đức Giêsu đã có thể rêu rao là bảo Ngài ”bị quỷ
ám” và là “người Samari” (Ga 8,48). Do đó, cuộc gặp gỡ đầy
lòng thương xót giữa một người Samari và một người Do Thái
là lời chất vấn mạnh mẽ chống lại mọi thao túng ý thức hệ, thúc
đẩy chúng ta mở rộng thế giới của mình, nhờ đó khả năng yêu
thương của chúng ta có được chiều kích phổ quát vượt thắng
mọi thành kiến, mọi rào cản lịch sử hoặc văn hóa, mọi lợi ích
nhỏ nhen.
Lời kêu van của người khách lạ
84. Sau cùng, tôi lưu ý đến một đoạn Tin Mừng, trong đó Chúa
Giêsu đã nói: “Tôi là khách lạ các ngươi đã tiếp rước”
(Mt 25,35). Chúa Giêsu đã có thể công bố những lời này bởi vì
Ngài có một trái tim rộng mở, nhạy cảm với những nỗi khốn
quẫn của người khác. Thánh Phaolô đã khuyên nhủ: “Anh em
hãy vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12,15). Một khi
trái tim chúng ta mang lấy thái độ này thì chúng ta có khả năng
đồng hóa mình với người khác, chẳng kể người đó sinh ở đâu
hoặc đến từ nơi nào. Khi đi vào tiến trình này, cuối cùng chúng
ta sẽ cảm nghiệm được người khác là “anh em cốt nhục” của
mình (Is 58,7).
85. Đối với các Kitô hữu, những lời của Đức Giêsu còn có một
chiều kích siêu việt khác, khiến họ nhận ra chính Đức Kitô trong
mỗi người anh em bị bỏ rơi hoặc bị loại trừ (x. Mt 25,40.45).
Trong thực tế, đức tin tạo lập lòng tôn trọng người khác dựatrên những thúc đẩy lạ thường, bởi lẽ các tín hữu nhận biết rằng
Thiên Chúa yêu thương từng người bằng một tình yêu vô biên
và “Ngài cũng ban cho mỗi người một phẩm giá vô biên”[61].
Hơn nữa chúng ta tin rằng Chúa Kitô đã đổ máu mình ra cho
mọi người và cho từng người, vì thế, không ai ở ngoài tình yêu
phổ quát của Ngài. Và nếu chúng ta đi đến tận nguồn tình yêu
đó, nghĩa là đi vào đời sống thâm sâu thân mật của Thiên Chúa,
chúng ta sẽ thấy một cộng đồng Ba Ngôi, là nguồn gốc và mẫu
mực hoàn hảo của mọi đời sống cộng đồng. Đã có những triển
khai thần học sâu rộng về điểm này. Thần học ngày càng phong
phú nhờ suy tư về chân lý lớn lao đó.
86. Đôi khi tôi lấy làm tiếc vì mặc dù đã có được những thúc
đẩy như thế, Giáo hội đã phải mất một thời gian rất dài mới
mạnh mẽ lên án nạn nô lệ và những hình thức bạo lực. Ngày
nay, với sự tiến triển của linh đạo và thần học, chúng ta không
còn lý do để biện minh nữa. Tuy nhiên, vẫn còn có những người
dường như cảm thấy niềm tin của mình cổ võ hoặc ít ra chấp
nhận các hình thức chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và bạo lực, thái
độ bài ngoại, miệt thị, thậm chí ngược đãi những ai khác mình.
Đức tin, bao hàm cả chủ nghĩa nhân bản, phải giữ được cảm
thức phê phán trước các khuynh hướng này và tức thời phản
ứng khi chúng xuất đầu lộ diện. Chính vì thế, điều quan trọng là
trong huấn giáo và giảng dạy cần đề cập cách trực tiếp và rõ
ràng hơn những nội dung liên quan đến ý nghĩa xã hội của hiện
sinh, chiều kích huynh đệ của linh đạo, niềm xác tín về phẩm
giá không thể tước bỏ của mỗi người và những lý do để yêu
thương và đón nhận mọi người.
CHƯƠNG BA:
DỰ PHÓNG VÀ KIẾN TẠO MỘT THẾ GIỚI MỞ
87. Con người được tạo dựng cách nào đó, sao cho họ không
thể sống, phát triển và đạt đến mức thành toàn nếu không “chân
thành trao ban chính mình”[62]. Con người cũng không thể hiểu
biết tường tận sự thật về chính mình, nếu không gặp gỡ người
khác: “Tôi chỉ thực sự thông hiệp với chính mình trong mức độ
tôi thông hiệp với người khác”[63]. Điều đó giải thích tại saokhông ai có thể cảm nghiệm được giá trị của cuộc sống nếu
không có những khuôn mặt cụ thể để yêu thương. Điều này tỏ
lộ bí ẩn của kiếp nhân sinh đích thực, vì “sự sống tồn tại nơi
nào có mối liên kết, có sự hiệp thông, có tình huynh đệ; và sự
sống mạnh hơn cái chết khi nó được xây dựng trên những mối
quan hệ chân thực và sự gắn bó thủy chung. Ngược lại, sự
sống không tồn tại nơi nào người ta cho rằng mình chỉ thuộc về
mình và sống như những ốc đảo: cái chết đã thắng thế nơi
những thái độ này“[64].
VƯỢT KHỎI CHÍNH MÌNH
88. Từ đáy sâu tâm hồn, tình yêu tác tạo những mối dây liên kết
và mở rộng cuộc hiện sinh khi kéo con người ra khỏi chính mình
để đến với người khác[65]. Được tạo dựng cho tình yêu, mỗi
người chúng ta đều mang trong mình “một phép ‘xuất thần': ra
khỏi chính mình để tìm gặp nơi người khác chính bản thân mình
cách tròn đầy hơn”[66]. Đó là lý do tại sao “con người bằng mọi
cách, phải thực hiện cho được việc ra khỏi chính mình”[67].
89. Nhưng trong cuộc sống tôi không thể thu hẹp các mối tương
quan để chỉ còn liên hệ với một nhóm nhỏ, ngay cả với riêng gia
đình tôi, bởi lẽ tôi không thể hiểu được mình nếu không có một
mạng lưới liên hệ rộng rãi hơn: không chỉ là những liên hệ hiện
tại của tôi mà cả những liên hệ đã có trước đây và đào luyện tôi
suốt cả cuộc đời. Dẫu tôi có được mối tương quan rất thắm thiết
với người mà tôi yêu quý, thì tôi cũng không được quên rằng
người này không chỉ sống vì tôi cũng như tôi không chỉ sống vì
người ấy. Mối liên hệ của chúng ta, nếu lành mạnh và chân thật,
sẽ rộng mở đến những người khác, nhờ đó chúng ta sẽ được
triển nở và phong phú hơn. Hiện nay, cảm thức xã hội, với ý
nghĩa cao quý nhất của sự hợp quần, ngày càng bị thu hẹp,
nhường chỗ cho những mối liên kết ích kỷ mang dáng vẻ thắm
thiết. Thế mà tình yêu chân chính vốn làm cho con người được
triển nở cùng với tình bằng hữu đích thực chỉ ngự trị nơi những
tâm hồn biết mở ra để được lấp đầy. Muốn kết đôi hay trở nên
bạn hữu, chúng ta phải mở rộng con tim để đến với những
nhóm người khác, nhờ đó chúng ta có khả năng ra khỏi chínhmình, ngõ hầu đón nhận tất cả mọi người. Những nhóm khép
kín và những đôi bạn chỉ biết đến mình tạo thành một cái
“chúng tôi” đối nghịch với mọi người, thường là biểu hiện rõ
ràng của thói ích kỷ chỉ lo phòng giữ cho riêng mình.
90. Điều đáng nói là nhiều ngôi làng nhỏ trong những vùng hẻo
lánh đã có thể quảng đại tiếp đón các khách hành hương và
xem đó như bổn phận thiêng thánh của lòng hiếu khách. Những
cộng đoàn tu sĩ thời trung cổ cũng đã chứng tỏ điều đó, như
Luật Thánh Biển Đức minh chứng. Mặc dù việc đón tiếp này có
thể gây xáo trộn cho nề nếp trật tự và bầu khí thinh lặng của
các Đan viện, Thánh Biển Đức yêu cầu “phải hết sức ân cần
chăm sóc những người nghèo và các khách hành hương”[68].
Việc gặp gỡ những người ngoài cộng đoàn vừa là một thách
thức vừa là một món quà mà lòng hiếu khách là cách thức biểu
lộ cụ thể của việc sẵn sàng đón nhận. Các đan sĩ hiểu rằng, mọi
điều giá trị mà họ thủ đắc nhờ tu luyện đều cần phải đi kèm với
khả năng vượt khỏi chính mình để mở ra với người khác.
Giá trị vô song của tình yêu
91. Người ta có thể củng cố một số thái độ mang dáng vẻ giá trị
luân lý: dũng cảm, tiết độ, chuyên chăm và những đức tính khác.
Nhưng để các hành vi được tương hợp với các nhân đức luân
lý, cần phải xét xem những hành vi ấy có mang lại sức năng
động có khả năng mở ra và liên kết với người khác hay không,
nếu có thì đến mức độ nào. Sức năng động này chính là đức ái
được Thiên Chúa phú ban, nếu như không có, chúng ta chỉ có
thể vun trồng vẻ ngoài của nhân đức, vốn không có khả năng
xây dựng đời sống chung. Chính vì thế thánh Tôma Aquinô, khi
trích dẫn Augustinô, đã khẳng định rằng: sự tiết độ của người
hà tiện không phải là nhân đức[69]. Về phần mình, thánh
Bônaventura giảng giải rằng: nếu không có đức ái, các nhân
đức khác không thể giúp ta thực sự chu toàn các giới răn “như
cách Thiên Chúa muốn”[70].
92. Tầm vóc thiêng liêng của đời người mang nét đặc trưng của
tình yêu. Tình yêu, suy cho cùng, là “tiêu chuẩn xác định cuộcđời của một người có giá trị hay không”[71]. Tuy nhiên, có
những tín hữu nghĩ rằng uy thế của họ là ở chỗ áp đặt ý thức hệ
lên người khác hoặc ở chỗ dùng bạo lực để bảo vệ sự thật hoặc
bằng cách rầm rộ biểu dương lực lượng. Là các tín hữu, tất cả
chúng ta đều phải nhận biết điều này: tình yêu là điều tối
thượng, đừng bao giờ để tình yêu lâm vào vòng nguy hiểm và
nguy hiểm trầm trọng nhất chính là việc không yêu thương (x. 1
Cr 13,1-13).
93. Để xác định rõ đặc điểm của tình yêu được chúng ta cảm
nghiệm nhờ ân sủng của Thiên Chúa, Thánh Tôma Aquinô đã
định nghĩa tình yêu như một chuyển động khiến ta tập chú đến
người khác “bằng cách xem người ấy như là một với chính
mình”[72]. Tình cảm dành cho người khác dẫn đến việc mưu
cầu thiện ích cho người ấy cách vô vị lợi. Điều này khởi đi từ
cảm thức quý mến, trân trọng phẩm giá của người khác, tóm lại
được diễn tả bằng từ ngữ “bác ái”: người được yêu là người rất
“quý báu” đối với tôi, “người ấy được đánh giá cao”[73]. Và “tình
yêu khiến ai đó đẹp lòng (grata) tôi chính là lý do khiến tôi trao
ban cho họ cách vô vị lợi (gratis)”[74].
94. Do đó tình yêu bao trùm hơn, chứ không chỉ là hàng loạt
nghĩa cử. Đó là những hành động phát xuất từ sự liên kết với
người khác ngày càng bền chặt hơn, nhìn nhận phẩm giá của
người ấy, thấy họ đáng được tôn trọng, dễ mến và tốt đẹp, bất
kể dáng vẻ bên ngoài hoặc tình trạng đạo đức của họ. Yêu
người khác vì bản thân người ấy, vì những gì họ là, sẽ thúc đẩy
chúng ta mưu cầu điều tốt đẹp nhất cho họ. Chỉ khi vun trồng
loại tương quan này chúng ta mới có thể tạo được tình bằng
hữu xã hội không loại trừ và tình huynh đệ mở ra cho hết mọi
người.
TÌNH YÊU MỞ RỘNG
95. Sau hết, tình yêu thúc đẩy chúng ta hiệp thông với hết mọi
người. Không ai có thể trưởng thành và đạt tới mức thành toàn
khi sống tách biệt người khác. Bởi tính năng động của nó, tình
yêu đòi ngày một mở rộng, ngày càng có khả năng đón nhậnngười khác, bằng cách thực hiện một cuộc phiêu lưu không
ngừng nghỉ làm cho tất cả các vùng ngoại vi cùng hướng đến
cảm thức thật sự thuộc về nhau. Như Đức Giêsu đã nói với
chúng ta: “Tất cả anh em đều là anh em với nhau”(Mt 23,8).
96. Các vùng miền và các quốc gia cũng cần vượt ra khỏi ranh
giới của chính mình. Thật vậy, “việc ngày càng gia tăng số
lượng các kết nối và thông tin liên lạc trong thế giới ngày nay
khiến chúng ta ý thức rõ ràng về tính thống nhất và định mệnh
chung giữa các quốc gia. Chúng ta nhận ra trong những biến
chuyển của lịch sử cũng như trong tính đa dạng của các sắc
dân, các xã hội và các nền văn hóa, các mầm mống của thiên
hướng tạo lập một cộng đồng những anh chị em biết đón nhận
và chăm sóc cho nhau”[75].
Xã hội mở có khả năng dung nạp mọi người
97. Có một số vùng ngoại vi ở ngay bên chúng ta, giữa thành
phố hoặc trong chính gia đình chúng ta. Cũng có một hình thức
tình yêu phổ quát mở ra, không mở ra về địa lý nhưng mở ra
trong cuộc sống. Đó là khả năng mỗi ngày mở rộng vòng tròn
thân thiện của tôi, tìm đến với những người không hẳn nhiên
được tôi quan tâm, dù họ ở gần bên tôi. Hơn nữa, mỗi anh chị
em đau khổ, bị xã hội bỏ rơi hoặc không ngó ngàng tới, đều là
ngoại kiều ngay trong đất nước họ sinh ra, một thứ ngoại kiều
của thực tế cuộc sống. Họ có thể là một công dân với đầy đủ
giấy tờ, nhưng bị đối xử như người ngoài ngay trên đất nước
mình. Nạn kỳ thị chủng tộc là một thứ virus dễ dàng đột biến và
thay vì biệt tăm thì lại ẩn núp rình chờ.
98. Tôi muốn nhắc đến những “người lưu vong ẩn mặt” bị đối
xử như bộ phận ngoại lai trong xã hội[76]. Nhiều người khuyết
tật “cảm thấy họ sống mà chẳng thuộc về ai và cũng chẳng
được tham dự vào việc gì”. Còn nhiều người khác bị “ngăn cản
không được có đầy đủ tư cách công dân”. Mối quan tâm của
chúng ta không chỉ là chăm sóc họ mà còn bảo đảm cho họ
được “tham gia tích cực vào cộng đồng dân sự và Giáo hội. Đó
là hành trình vừa đòi hỏi lại vừa khó khăn, sẽ ngày càng gópphần vào việc đào tạo lương tâm biết nhìn nhận mỗi cá nhân là
một con người duy nhất và không thể thay thế”. Tôi cũng nghĩ
đến “những người cao tuổi, nhất là vì yếu đuối khuyết tật, đôi
khi bị coi là gánh nặng”. Tuy nhiên, mỗi người trong số những
người này đều có thể mang lại “phần đóng góp riêng vào thiện
ích chung, qua đời sống độc đáo họ đã trải qua”. Cho phép tôi
nhấn mạnh rằng phải có “can đảm mang lại tiếng nói cho những
người, vì có khiếm khuyết mà bị phân biệt đối xử. Bởi vì, thật
đáng buồn, kể cả ngày nay tại một số nước, người ta khó lòng
nhìn nhận phẩm giá bình đẳng của những con người này”[77].
Những cách hiểu không đúng về tình yêu phổ quát
99. Tình yêu vượt khỏi các ranh giới được đặt nền tảng trên
điều được gọi là “tình bằng hữu xã hội” trong mỗi thành phố
hoặc mỗi quốc gia. Khi một cộng đồng có được tình bằng hữu
xã hội chân chính, thì đây chính là điều kiện để cộng đồng đó
thực sự mở ra đón nhận mọi người. Lý tưởng này không phải là
chủ thuyết phổ quát giả hiệu của người luôn có nhu cầu phải đi
đây đi đó, họ đi vì không chịu đựng được cũng không yêu mến
người dân nước mình. Kẻ xem thường chính người dân nước
mình thường thiết lập thứ bậc trong xã hội: người hạng nhất
hoặc hạng hai, người có phẩm giá cao hay phẩm giá kém,
người có nhiều quyền hoặc ít quyền. Bằng cách này, họ phủ
nhận việc có chỗ cho tất cả mọi người.
100. Chắc chắn tôi không đề xuất một chủ thuyết phổ quát độc
đoán và trừu tượng, được nghĩ ra hoặc lên kế hoạch bởi một số
người và được giới thiệu như một lý tưởng với tham vọng đồng
nhất, thống trị và cướp bóc. Có thứ mô hình toàn cầu hóa “nhất
quyết đạt đến sự đồng nhất một chiều và mưu toan loại trừ mọi
khác biệt và mọi truyền thống chỉ nhằm tìm kiếm sự thống nhất
hời hợt bề ngoài. [...]. Nếu có mô hình toàn cầu hóa nào đó có ý
định san bằng tất cả [...], như thể san bằng một khối cầu, thì loại
toàn cầu hóa này phá hủy tính phong phú cũng như tính đặc thù
của từng con người và của từng dân tộc”[78]. Chủ thuyết phổ
quát sai lầm này cuối cùng sẽ tước mất nét đa dạng muôn màu
và nét đẹp của thế giới và rốt cuộc cả nhân tính của nó nữa.Thật vậy, “tương lai không chỉ đơn điệu một màu, nhưng [...] có
thể muôn màu muôn sắc, nếu chúng ta can đảm nhìn ngắm nó
trong nét đa dạng và khác biệt mà mỗi cá nhân có thể cống hiến.
Ôi, gia đình nhân loại chúng ta cần học hỏi biết mấy cách sống
chung hòa thuận êm ấm mà không cần mọi người phải giống y
như nhau!”[79].
VƯỢT KHỎI THẾ GIỚI CỦA CÁC ĐỐI TÁC
101. Giờ đây chúng ta hãy quay lại với dụ ngôn người Samari
nhân hậu vì dụ ngôn này vẫn còn nhiều điều để dạy chúng ta.
Khi ấy có một người bị thương nằm bên đường. Những người
đi ngang qua nạn nhân đã không chú tâm lắng nghe tiếng thúc
giục trong lòng mình để trở nên những người thân cận; họ đang
bận tâm đến bổn phận, đến địa vị xã hội, đến uy thế nghề
nghiệp trong xã hội của họ. Họ cảm thấy mình rất quan trọng
đối với xã hội thời ấy và lo lắng hoàn thành vai trò đó sao cho
tốt. Người bị thương bị bỏ rơi bên đường quả là điều phiền toái
làm gián đoạn mọi chương trình này, hơn nữa người này chẳng
có chức vị gì. Anh ta chẳng là ai cả, không thuộc một nhóm
được nể trọng nào, chẳng có vai trò gì làm nên lịch sử cả.
Trong khi ấy, có một người Samari nhân hậu đã vượt qua cám
dỗ xếp hạng hẹp hòi này, chính ông cũng không thuộc bất kỳ
nhóm nào trong số này, đơn thuần ông chỉ là một người khách
lạ không có địa vị đặc biệt nào trong xã hội. Vì không bị ràng
buộc bởi chức danh và địa vị, ông có thể tạm dừng cuộc hành
trình, thay đổi chương trình của mình, và sẵn sàng mở lòng đón
nhận mọi sự ngoài dự tính để giúp đỡ người bị thương đang
cần đến ông.
102. Câu chuyện này có thể gợi lên những phản ứng nào trong
thế giới hôm nay, vẫn hằng xuất hiện ngày càng nhiều nhóm xã
hội bám vào một danh tính tách biệt họ với những người khác?
Làm sao câu chuyện ấy có thể đánh động tâm hồn những con
người có xu hướng tự sắp xếp để ngăn ngừa sự hiện diện của
mọi người xa lạ, có thể làm xáo trộn bản sắc cũng như cơ cấu
phòng thủ và đóng kín của họ? Ở đây, họ không thể là người
thân cận, họ chỉ có thể thân cận với những ai làm lợi cho họ.Như thế, từ ngữ ‘người thân cận' mất hết ý nghĩa, và chỉ còn
‘bạn đối tác' là có ý nghĩa, đối tác vì cùng hoạt động cho những
lợi ích nhất định[80].
Tự do, bình đẳng và huynh đệ
103. Tình huynh đệ không đơn thuần được phát sinh bởi tôn
trọng tự do cá nhân hoặc tuân thủ sự bình đẳng. Mặc dù đây là
những điều kiện tiên quyết nhưng không đủ để tình huynh đệ tất
yếu nảy sinh. Tình huynh đệ còn mang lại điều gì đó tích cực
hơn cho tự do và bình đẳng. Điều gì sẽ xảy ra nếu tình huynh
đệ không được vun xới cách ý thức, nếu không có một ý chí
chính trị cổ võ tình huynh đệ, qua việc giáo dục tình huynh đệ,
đối thoại và khám phá các giá trị của nhau để làm phong phú
cho nhau? Điều này khiến tự do bị thu hẹp, chỉ còn là tình trạng
cô lập, tự ý muốn thuộc về ai hoặc về cái gì cũng được, hoặc
chỉ muốn chiếm hữu và hưởng thụ mà thôi. Điều này hoàn toàn
không diễn tả hết được sự phong phú của tự do vốn luôn
hướng đến tình yêu.
104. Sự bình đẳng cũng không đạt được bằng một định nghĩa
trừu tượng cho rằng “tất cả mọi người đều bình đẳng”. Đúng
hơn, nó có được khi chúng ta vun trồng ý thức và giáo dục về
tình huynh đệ. Những người là đối tác của nhau chỉ tạo ra
những xã hội khép kín. Trong xã hội đó, đâu là chỗ cho người
không thuộc các nhóm đối tác, nhưng ước mơ một cuộc sống
tốt đẹp hơn cho bản thân và gia đình mình?
105. Chủ nghĩa cá nhân không làm cho chúng ta tự do hơn,
bình đẳng hơn, huynh đệ hơn. Đơn thuần gộp tổng số lợi ích cá
nhân không thể tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn cho cả nhân loại.
Nó cũng không thể cứu chúng ta khỏi rất nhiều điều tệ hại đang
ngày càng mang tầm mức toàn cầu. Nhưng chủ nghĩa cá nhân
cực đoan là thứ virus khó loại trừ nhất. Nó lừa dối chúng ta. Nó
khiến chúng ta tưởng rằng tất cả hệ tại ở việc để cho tham vọng
cá nhân được tự do vận hành, như thể hễ cứ theo đuổi những
tham vọng và an toàn cá nhân là chúng ta có thể xây dựng
được lợi ích chung.TÌNH YÊU PHỔ QUÁT THĂNG TIẾN CON NGƯỜI
106. Để thăng tiến trên con đường xây dựng tình bằng hữu xã
hội và tình huynh đệ phổ quát, có một điều cơ bản và thiết yếu
cần phải nhìn nhận là: ý thức giá trị lớn lao của mỗi người, mỗi
nhân vị, ở mọi lúc và mọi hoàn cảnh. Nếu mỗi người có giá trị
lớn lao như thế, thì cần phải quả quyết rõ ràng rằng “riêng việc
một số người sinh ra ở nơi ít tài nguyên hoặc kém phát triển thì
không thể là lý do để biện minh cho việc họ phải sống kém
phẩm giá”[81]. Nguyên tắc cơ bản này của đời sống xã hội
thường bị bỏ qua theo nhiều cách bởi những người thấy rằng
nó không phù hợp với thế giới quan của họ hoặc không phục vụ
cho các mục tiêu của họ.
107. Mọi người đều có quyền sống đúng nhân phẩm và được
phát triển đầy đủ. Không quốc gia nào được từ chối quyền cơ
bản này. Mọi người đều có quyền này ngay cả đối với người
không có khả năng làm việc hoặc được sinh ra và lớn lên với
những hạn chế. Thật vậy, điều này không làm giảm phẩm giá
cao cả của người ấy xét như một nhân vị, phẩm giá này không
dựa trên hoàn cảnh cuộc sống mà dựa trên giá trị nội tại của
chính con người ấy. Khi nguyên tắc cơ bản này không được tôn
trọng, thì tình huynh đệ cũng như sự sống còn của nhân loại sẽ
không có tương lai.
108. Một số xã hội chỉ chấp nhận một phần nguyên tắc này. Họ
đồng ý rằng mọi người đều phải có cơ hội, nhưng lại cho rằng
mọi sự tùy thuộc vào cá nhân mỗi người. Từ quan điểm phiến
diện này, sẽ là vô nghĩa khi “đầu tư để những người chậm chạp,
những người yếu kém hoặc thiểu năng có thể làm được điều gì
đó trong cuộc đời”[82]. Đầu tư cho những người yếu kém có thể
là điều không mang lại lợi nhuận, cũng như kém hiệu quả. Việc
này đòi hỏi một nhà nước luôn có mặt và tích cực hoạt động,
cũng như các tổ chức xã hội dân sự vốn thực sự hướng tới con
người và công ích, phải vượt lên trên hoạt động tự do của cơ
chế duy hiệu năng trong một số hệ thống kinh tế, chính trị hoặc
ý thức hệ.109. Đối với những người sinh ra trong các gia đình có điều
kiện kinh tế ổn định, được học hành đến nơi đến chốn, được
nuôi dưỡng no đủ nên khỏe mạnh, hoặc tự nhiên có được các
khả năng trổi vượt, chắc chắn sẽ không cần một nhà nước tích
cực mà chỉ yêu cầu có tự do. Nhưng hiển nhiên không thể áp
dụng cùng một quy tắc ấy cho những người khuyết tật, những
người sinh ra trong một gia đình nghèo khổ cùng cực, được
giáo dục kém cỏi và không được chăm sóc y tế đầy đủ như họ
đáng được. Nếu xã hội được điều hành chủ yếu bởi các tiêu
chuẩn của thị trường tự do và duy hiệu năng, thì sẽ không có
chỗ cho những con người như thế và tình huynh đệ chỉ là một
mỹ từ lãng mạn.
110. Thực ra “tuyên bố về tự do kinh tế trở thành một diễn từ
mâu thuẫn khi hoàn cảnh thực tế ngăn cản nhiều người không
thực sự tiếp cận được nó và các cơ may tìm được việc làm thì
giảm sút”[83]. Những từ ngữ như tự do, dân chủ hay tình huynh
đệ đều trở nên vô nghĩa. Vì trong thực tế, “bao lâu hệ thống
kinh tế - xã hội của chúng ta còn tạo ra một nạn nhân và bao lâu
chỉ còn một người bị gạt bỏ, thì chúng ta không thể ăn mừng
tình huynh đệ phổ quát”[84]. Một xã hội thực sự nhân bản và
huynh đệ sẽ có khả năng bảo đảm cách bền vững và hữu hiệu
chuyện mọi thành viên đều được đồng hành trong mỗi giai đoạn
của cuộc đời, không chỉ để đáp ứng các nhu cầu căn bản của
họ, mà còn để họ có thể cống hiến những gì tốt nhất của bản
thân, cho dù sự cống hiến của họ không nhiều lắm, cho dù họ
bước đi chậm chạp hay năng lực của họ có giới hạn.
111. Với những quyền không thể bị tước bỏ, nhân vị, tự bản
chất, là mở ra để tương quan. Từ nơi sâu thẳm tâm hồn vang
lên tiếng mời gọi chúng ta vượt lên trên chính mình để gặp gỡ
người khác. Bởi thế, “cần phải cẩn thận để không rơi vào những
lầm lẫn có thể nảy sinh từ việc hiểu sai khái niệm nhân quyền
và sử dụng sai các quyền đó. Thực vậy, ngày nay người ta có
xu hướng đòi hỏi quyền cá nhân ngày càng lớn - tôi muốn nói
đến tính chất cá nhân chủ nghĩa. Điều này ẩn giấu một quan
niệm về nhân vị tách biệt khỏi mọi bối cảnh xã hội và nhân học,con người được xem gần giống như một “đơn tử” (monad),
ngày càng vô cảm với mọi sự [...]. Nếu các quyền của cá nhân
không được sắp đặt hài hòa với thiện ích lớn hơn, thì rốt cuộc
quyền đó sẽ tự cho mình là vô giới hạn và từ đó trở thành
nguồn xung đột và bạo lực”[85].
CỔ VÕ SỰ THIỆN LUÂN LÝ
112. Chúng ta không thể không nói rằng việc mong muốn và tìm
kiếm điều tốt đẹp cho người khác và cho toàn thể nhân loại
cũng hàm ý việc cố giúp con người và xã hội trưởng thành trong
việc sống các giá trị luân lý làm phát triển con người toàn diện.
Trong Tân Ước, có nói tới một trong những hoa trái của Chúa
Thánh Thần (x. Gl 5,22) được diễn tả bằng từ Hy
lạp agathosyne. Agathosyne nghĩa là gắn kết với sự thiện, tìm
kiếm điều thiện. Hơn nữa, còn là muốn tìm điều có giá trị hơn,
điều tốt đẹp nhất cho người khác. Đó là giúp họ trưởng thành,
phát triển một cuộc sống lành mạnh, vun trồng các giá trị chứ
không chỉ là các thiện ích vật chất. Tiếng La tinh có một diễn
ngữ tương tự bene-volentia, nghĩa là thái độ muốn điều tốt đẹp
cho người khác. Đó là một ước muốn mạnh mẽ những điều tốt
đẹp, một hướng chiều về tất cả những gì tốt đẹp và tuyệt vời,
thúc đẩy chúng ta làm phong phú cuộc sống của người khác
bằng những điều tốt đẹp, thanh cao và hướng thượng.
113. Về điểm này, tôi lấy làm buồn mà nhấn mạnh rằng “chúng
ta bị suy thoái luân lý đã từ rất lâu, chúng ta coi thường đạo đức,
lòng nhân ái, niềm tin và sự trung thực. Đã đến lúc phải nhìn
nhận ra rằng thói hời hợt vô tư này chẳng có ích gì cho chúng ta.
Các nền tảng của đời sống xã hội bị hủy hoại như thế rốt cuộc
sẽ khiến chúng ta chống lại nhau chỉ để bảo vệ lợi ích riêng
tư”[86]. Chúng ta hãy quay lại với việc cổ võ làm điều thiện, cho
bản thân và cho toàn thể nhân loại, và như thế chúng ta sẽ
cùng nhau tiến bước hướng tới sự phát triển đích thực và toàn
diện. Mọi xã hội cần phải bảo đảm các giá trị được lưu truyền,
bằng không điều được lưu truyền sẽ là lòng vị kỷ, bạo lực, đồi
trụy dưới nhiều hình thức, sự dửng dưng và, cuối cùng, mộtcuộc đời khép kín trước chân trời siêu việt và cố thủ trong
những lợi ích cá nhân.
Giá trị của tình liên đới
114. Tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh đến tình liên đới. “Sự liên
đới, như là một nhân đức luân lý và là một thái độ xã hội vốn là
kết quả của một sự hoán cải cá nhân, đòi hỏi dấn thân của
nhiều chủ thể có trách nhiệm về giáo dục và đào tạo. Trước tiên,
tôi nghĩ đến các gia đình được mời gọi đảm nhận sứ mạng
hàng đầu và thiết yếu, là giáo dục. Gia đình là nơi đầu tiên các
giá trị của tình yêu thương và huynh đệ, chung sống và sẻ chia,
quan tâm và chăm sóc người khác được sống và truyền thụ lại.
Gia đình cũng là môi trường ưu tiên để truyền dạy đức tin, bắt
đầu từ những cử chỉ đơn sơ diễn tả lòng đạo mà các bà mẹ dạy
cho con cái mình. Các nhà giáo dục và đào tạo có nhiệm vụ tận
tâm dạy dỗ trẻ nhỏ và thanh thiếu niên trong trường học hoặc
trong các trung tâm xã hội giáo dưỡng khác nhau, cần phải ý
thức rằng trách nhiệm của họ cũng liên quan đến các chiều kích
luân lý, tâm linh và xã hội. Các giá trị tự do, tôn trọng lẫn nhau
và tình liên đới có thể được truyền thụ ngay từ khi còn nhỏ. [...]
Những người làm việc trong ngành văn hóa và truyền thông xã
hội cũng có trách nhiệm trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, nhất
là với xã hội hiện nay, khi các phương tiện thông tin và liên lạc
ngày càng phổ biến”[87].
115. Sống trong thời đại như hôm nay khi mọi thứ dường như
phân rã và mất tính nhất quán, chúng ta nên nhấn mạnh tới sự
“bền vững”[88], bắt nguồn từ việc ý thức mình có trách nhiệm
về sự yếu kém của người khác trong khi theo đuổi xây dựng
một vận mệnh chung. Sự liên đới, được biểu lộ cụ thể trong việc
phục vụ, có thể có những hình thức rất khác nhau trong trách
nhiệm chăm lo cho người khác. Mà phục vụ “phần lớn là quan
tâm đến những hoàn cảnh bấp bênh. Phục vụ có nghĩa là chăm
sóc những thành viên yếu kém của gia đình chúng ta, xã hội
chúng ta, dân tộc chúng ta”. Trong khi làm nhiệm vụ này, mỗi
người có thể “gác lại những nhu cầu, khát vọng, ham muốn
quyền lực của mình, đối diện với cái nhìn cụ thể của người anhem yếu kém nhất. [...] Phục vụ luôn nhìn đến khuôn mặt của họ,
chạm vào da thịt của họ, cảm nhận gần gũi với họ đến mức, đôi
khi, phải chịu lấy “nỗi đau” và cố gắng cải thiện tình cảnh của họ.
Vì thế, phục vụ không bao giờ có tính ý thức hệ, vì chúng ta
không phục vụ các ý tưởng, mà là phục vụ con người”[89].
116. Những người rốt hết thường “sống một tình liên đới đặc
biệt tồn tại giữa những người đau khổ, những người nghèo túng,
những người mà nền văn minh của chúng ta dường như lãng
quên, hay tệ hơn, rất muốn quên. Liên đới là một từ không phải
lúc nào người ta cũng thích; tôi có thể nói rằng, đôi khi nó bị
biến thành một từ xấu xí không thể nói ra. Nhưng thật ra đó là
một từ có nhiều ý nghĩa hơn là chỉ làm vài việc quảng đại lúc
này lúc khác. Liên đới có nghĩa là suy nghĩ và hành động vì
cộng đồng, ưu tiên cho cuộc sống của tất cả mọi người hơn là
cho việc sở hữu thiện ích của một ít người. Nó cũng có nghĩa là
đấu tranh chống lại các nguyên nhân có tính cơ cấu sinh ra
nghèo đói, bất bình đẳng, thiếu việc làm, thiếu đất đai và thiếu
nhà ở, chối bỏ các quyền xã hội và lao động. Nó có nghĩa là
đương đầu với những tác hại hủy diệt của đế chế tiền bạc. [...]
Sự liên đới, hiểu theo nghĩa sâu xa nhất, là một cách làm nên
lịch sử và đó chính là điều các phong trào quần chúng thực
hiện”[90].
117. Khi nói đến việc chăm sóc ngôi nhà chung là hành tinh của
chúng ta, chúng ta đang nại đến mức tối thiểu của ý thức cộng
đồng phổ quát và tinh thần quan tâm lẫn nhau vốn vẫn còn tồn
tại nơi con người. Thật vậy, nếu một người có thể dùng nước
cách dư dả nhưng vì nghĩ đến người khác nên quyết định sử
dụng cách tiết kiệm, thì người ấy đã đạt đến mức đạo đức cao
cả thúc đẩy họ vượt trên chính bản thân mình và nhóm của
mình. Đó quả là một đức tính nhân bản tuyệt vời! Chúng ta
cũng phải sống như vậy, nếu nhìn nhận các quyền của mọi
người, ngay cả khi họ sinh ra ở nơi khác.
XEM LẠI VAI TRÒ XÃ HỘI CỦA TÀI SẢN118. Thế giới hiện hữu là để cho mọi người, vì tất cả chúng ta
đều là những nhân vị được sinh ra trên trái đất này với cùng
một phẩm giá. Sự khác biệt về màu da, tôn giáo, khả năng, quê
quán, nơi cư trú, và biết bao điều khác nữa, đều không thể
được coi là ưu tiên hoặc được dùng để biện minh cho đặc
quyền của một số người gây thiệt thòi cho mọi người khác. Do
đó, với tư cách là một cộng đồng, chúng ta có nghĩa vụ bảo
đảm cho mọi người được sống với phẩm giá và có những cơ
hội thích đáng để phát triển toàn diện.
119. Trong những thế kỷ đầu của Kitô giáo, một số hiền giả đã
suy tư và triển khai một viễn kiến phổ quát về mục đích chung
của các của cải thiên nhiên[91]. Từ đó họ đi đến quan điểm cho
rằng khi một người không có được những điều kiện cần thiết để
sống xứng đáng với phẩm giá con người thì đó là vì có một
người khác đang chiếm giữ nó. Thánh Gioan Kim Khẩu tóm tắt
điều đó khi nói rằng “không chia sẻ một phần của cải của mình
cho người nghèo là ăn cắp của người nghèo và cướp đi chính
mạng sống của họ. Của cải chúng ta sở hữu không phải là của
chúng ta mà là của họ”[92]. Nói cách khác, như thánh Grêgôriô
Cả đã khẳng định: “Khi chúng ta trao cho người nghèo cái gì đó,
thì không phải là chúng ta cho họ những gì của mình, nhưng là
trả lại cho họ những gì thuộc về họ”[93].
120. Một lần nữa, tôi xin nhắc lại cho mọi người lời của thánh
Gioan Phaolô II mà có lẽ sức thuyết phục của lời này chưa
được nhận biết đầy đủ: “Thiên Chúa đã ban trái đất cho toàn
thể loài người, để trái đất có thể nuôi sống tất cả các thành viên
của nó, không loại trừ hay thiên vị”[94]. Theo nghĩa này, tôi
nhắc lại rằng “truyền thống Kitô giáo chưa bao giờ nhìn nhận
quyền tư hữu là tuyệt đối hoặc bất khả xâm phạm, và đã nhấn
mạnh đến vai trò xã hội của mọi hình thức tư hữu”[95]. Nguyên
tắc tất cả mọi người được hưởng dùng chung những tài sản
thiên nhiên là “nguyên tắc đầu tiên của toàn bộ trật tự đạo đức -
xã hội”[96]; đó là quyền tự nhiên, nguyên thủy và ưu tiên[97].
Tất cả các quyền khác liên quan đến của cải cần thiết cho sự
phát triển toàn diện của các nhân vị, gồm cả quyền tư hữu vàmọi quyền sở hữu khác, thì “không được cản trở, trái lại phải
tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quyền này”, như
thánh Phaolô VI đã khẳng định[98]. Quyền tư hữu chỉ có thể
được xem như một quyền tự nhiên thứ yếu và xuất phát từ
nguyên tắc về mục đích phổ quát của các của cải thụ tạo. Điều
này có những hệ quả rất cụ thể phải được phản ánh trong việc
vận hành xã hội. Tuy nhiên, thực tế thường xảy ra là các quyền
thứ cấp lại được đặt trên các quyền ưu tiên và quyền nguyên
thủy, đó là điều không thích đáng.
Các quyền không biên giới
121. Như vậy, không ai có thể bị loại bỏ dù họ sinh ra ở đâu, và
càng không thể bị loại trừ vì đặc quyền của những người khác,
những người được sinh ra ở một nơi có hoàn cảnh thuận lợi
hơn. Các giới hạn và ranh giới của các quốc gia không thể ngăn
cản điều này. Như thế không thể chấp nhận việc một người có
ít quyền hơn vì họ là phụ nữ, cũng như không thể chấp nhận
được rằng nơi sinh ra hay nơi cư trú của người nào đó tự nó là
lý do khiến người đó ít có cơ hội hơn để sống xứng phẩm giá
của mình và để thăng tiến.
122. Sự phát triển không được nhằm mục đích ngày càng thu
tích của cải cho một số ít người, nhưng phải bảo đảm “các
quyền con người, quyền cá nhân và xã hội, về kinh tế và chính
trị, bao gồm cả quyền của các quốc gia và dân tộc”[99]. Quyền
tự do kinh doanh hoặc thị trường của một số người không thể
lấn át quyền của các dân tộc và phẩm giá của người nghèo,
cũng không lấn át nghĩa vụ tôn trọng môi trường, bởi vì “ai sở
hữu cái gì đó, thì chỉ là để quản lý nó vì lợi ích của mọi
người”[100].
123. Hoạt động kinh doanh thực sự “là một ơn gọi cao quý
nhằm tạo ra của cải và làm cho thế giới nên tốt đẹp hơn cho
mọi người”[101]. Thiên Chúa khích lệ chúng ta, mong đợi chúng
ta phát triển những khả năng mà Ngài đã ban cho chúng ta,
cũng như Ngài đã ban cho vũ trụ này đầy các tiềm lực. Trong kế
hoạch của Ngài, “mỗi người được kêu gọi để thăng tiến sự pháttriển của mình”[102], điều này bao gồm việc phát triển khả năng
kinh tế và kỹ thuật, để gia tăng phúc lợi và của cải. Tuy nhiên,
trong mọi trường hợp, các khả năng kinh doanh, vốn là ơn phúc
Chúa ban, phải được định hướng rõ ràng để phát triển người
khác và để xóa đói giảm nghèo, nhất là qua việc tạo ra nhiều
loại công ăn việc làm. Quyền tư hữu luôn gắn liền với một
nguyên tắc quan trọng hơn và ưu tiên hơn đó là mọi tư hữu phải
phục tùng mục đích phổ quát liên quan đến các phúc lợi của trái
đất và do đó, mọi người đều có quyền sử dụng chúng[103].
Quyền của các dân tộc
124. Ngày nay, việc xác tín về mục đích phổ quát liên quan đến
các của cải trên trái đất cũng phải áp dụng cho cả các quốc gia,
cho lãnh thổ và tài nguyên của các quốc gia đó. Nếu đúng là tất
cả những điều này không chỉ được xem xét khởi đi từ tính hợp
pháp của quyền tư hữu và quyền công dân của một quốc gia
nhất định, mà còn từ nguyên tắc đầu tiên về mục đích phổ quát
của các phúc lợi trên trái đất, thì chúng ta có thể khẳng định
rằng vì không được khước từ quyền hưởng dùng tài nguyên
trên lãnh thổ đối với những người túng quẫn đến từ nơi khác,
nên mỗi quốc gia cũng thuộc về người nước ngoài. Thật vậy,
như các giám mục Hoa Kỳ đã dạy, có những quyền cơ bản “đã
có trước, có trước bất kỳ xã hội nào, vì chúng xuất phát từ
phẩm giá được ban cho mỗi nhân vị xét như là thụ tạo của
Thiên Chúa”[104].
125. Điều này cũng giả thiết một cách hiểu khác về các mối liên
hệ và trao đổi giữa các quốc gia. Nếu mỗi nhân vị có một phẩm
giá bất khả xâm phạm, nếu mỗi người là anh chị em của tôi và
nếu thế giới này thực sự thuộc về mọi người, thì việc một người
sinh ra ở đây hay sống ở nước ngoài đều không quan trọng.
Đất nước của tôi cũng có trách nhiệm đối với sự phát triển của
người ấy, tuy có thể thực hiện trách nhiệm này theo nhiều cách
khác: quảng đại đón tiếp họ trong trường hợp khẩn thiết, giúp
cải thiện điều kiện sống trong chính đất nước của họ, tránh lạm
dụng hoặc làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên của các
quốc gia, từ chối cộng tác vào các hệ thống tham nhũng vốncản trở sự phát triển xứng đáng của người dân. Điều có giá trị
cho các quốc gia thì cũng áp dụng cho các vùng khác nhau
trong mỗi quốc gia, giữa các vùng này thường có những bất
bình đẳng nghiêm trọng. Tuy nhiên đôi khi vì không có khả năng
nhìn nhận phẩm giá bình đẳng của con người nên các khu vực
phát triển hơn tại một số quốc gia, mong muốn rũ bỏ ‘gánh
nặng' là những vùng nghèo hơn, để họ có thể gia tăng hơn nữa
mức tiêu thụ của mình.
126. Chúng ta đang nói về một mạng lưới quan hệ quốc tế mới,
bởi vì không có cách nào để giải quyết các vấn đề nghiêm trọng
của thế giới nếu chỉ nghĩ đến các hình thức giúp đỡ lẫn nhau
giữa các cá nhân hoặc các nhóm nhỏ. Hãy nhớ rằng “sự bất
bình đẳng không chỉ ảnh hưởng đến các cá nhân, mà còn ảnh
hưởng đến toàn bộ các quốc gia, và buộc chúng ta phải suy
nghĩ đến một nền đạo đức học về các mối quan hệ quốc
tế”[105]. Và công lý đòi hỏi phải công nhận và tôn trọng không
chỉ các quyền cá nhân, mà cả quyền xã hội và quyền của các
dân tộc[106]. Điều chúng ta đang nói ở đây ám chỉ rằng phải
bảo đảm “quyền cơ bản của các dân tộc, đó là quyền được tồn
tại và tiến bộ”[107], điều này đôi khi bị cản trở nghiêm trọng bởi
áp lực của nợ nước ngoài. Trong nhiều trường hợp, việc trả nợ
chẳng những không tạo thuận lợi cho việc phát triển, mà còn
hạn chế và gây khó khăn bởi những điều kiện chế tài ngặt
nghèo. Dù vẫn tôn trọng nguyên tắc theo đó mọi khoản nợ đã
ký vay hợp pháp đều phải hoàn trả, nhưng cách thức thực hiện
nghĩa vụ trả nợ cho các nước giàu không được gây nguy hại
cho sự tồn tại và phát triển của các nước nghèo.
127. Hẳn nhiên, để thực hiện tất cả những điều này đòi hỏi phải
có một lối suy nghĩ khác. Nếu chúng ta không cố gắng suy nghĩ
theo lối mới, thì những điều tôi nói ở đây xem ra chỉ là không
tưởng. Nhưng nếu chúng ta chấp nhận nguyên tắc tổng quát
theo đó có những quyền chỉ bắt nguồn từ nhân phẩm bất khả
xâm phạm của con người, thì chúng ta có thể đảm nhận thách
đố dám mơ nghĩ về một nhân loại khác. Chúng ta có thể ước
mong có được một hành tinh, nơi đó mọi người đều được cungcấp đất đai, nhà ở và việc làm. Đây thực sự là con đường của
hòa bình, chứ không phải là chiến lược vô nghĩa và thiển cận
nhằm gieo rắc sợ hãi hoặc ngờ vực trước các đe dọa từ bên
ngoài. Bởi lẽ một nền hòa bình đích thực và lâu bền chỉ có thể
được thực hiện “khởi đi từ một nền đạo đức toàn cầu về tình
liên đới và hợp tác, nhằm phục vụ một thế giới tương lai được
định hình bởi sự phụ thuộc lẫn nhau và đồng trách nhiệm trong
toàn thể gia đình nhân loại”[108].
CHƯƠNG BỐN:
MỘT TRÁI TIM MỞ RA CHO TOÀN THẾ GIỚI
128. Để cho khẳng định theo đó tất cả chúng ta, với tư cách là
con người, đều là anh chị em, không chỉ là một ý tưởng trừu
tượng mà trở thành hiện thực cụ thể, chúng ta phải đối mặt với
một số thách đố. Các thách đố này thúc đẩy chúng ta, buộc
chúng ta phải có những tầm nhìn mới và triển khai những giải
đáp mới.
GIỚI HẠN CỦA CÁC BIÊN GIỚI
129. Những thách đố phức tạp nảy sinh khi người kế bên chúng
ta là di dân[109]. Tất nhiên, tốt nhất là tránh được những cuộc
di cư không cần thiết. Muốn thế, thì tại các nước xuất phát di
dân phải làm sao để dân chúng có thể có được một cuộc sống
xứng phẩm giá, và nhờ đó họ có được những điều kiện để phát
triển toàn diện. Nhưng khi nào còn chưa có những tiến bộ đáng
kể theo hướng đó, thì bổn phận của chúng ta là phải tôn trọng
quyền mỗi người có nơi sinh sống không chỉ đáp ứng các nhu
cầu căn bản của bản thân và gia đình, mà còn thể hiện được
đầy đủ tư cách của một nhân vị. Những nỗ lực của chúng ta
dành cho những người di cư mới đến có thể được tóm tắt trong
bốn động từ sau đây: tiếp đón, bảo vệ, thăng tiến và làm cho hội
nhập. Thật vậy, “đây không phải là các chương trình trợ giúp từ
trên xuống, mà là cùng nhau đảm nhận cuộc hành trình thông
qua bốn hành động này, để xây dựng các thành phố và quốc
gia, vừa bảo tồn bản sắc văn hóa và tôn giáo của chúng, vừacởi mở trước những dị biệt và biết quý trọng các dị biệt đó theo
tinh thần của tình huynh đệ nhân loại”[110].
130. Điều này bao hàm một số việc cần thiết, nhất là để đáp
ứng cho những người đang trốn tránh các cuộc khủng hoảng
nhân đạo nghiêm trọng. Có thể nêu ra một số ví dụ như: gia
tăng và đơn giản hóa thủ tục cấp phép nhập cảnh; thực hiện
các chương trình bảo lãnh cá nhân và cộng đồng; mở các hành
lang nhân đạo cho những người tị nạn yếu thế nhất; cung cấp
chỗ ở thích đáng xứng hợp với phẩm giá; bảo đảm an ninh cá
nhân và được hưởng các dịch vụ thiết yếu; bảo đảm sự hỗ trợ
thích đáng từ lãnh sự, quyền được giữ giấy tờ tùy thân, được
tiếp cận với hệ thống tư pháp cách công bằng, khả năng mở tài
khoản ngân hàng và bảo đảm nhu cầu tối thiểu để sinh tồn; cho
họ được tự do đi lại và khả năng làm việc; bảo vệ trẻ vị thành
niên và bảo đảm cho các em được học hành theo cấp lớp quy
định; dự phóng các chương trình bảo trợ hay chỗ ở tạm thời;
bảo đảm tự do tôn giáo; thúc đẩy hội nhập xã hội; hỗ trợ đoàn
tụ gia đình; và chuẩn bị những cộng đồng địa phương cho quá
trình hội nhập[111].
131. Điều quan trọng đối với những người đã nhập cư lâu hơn
và đã hội nhập vào đời sống xã hội, là việc áp dụng ý niệm
“quyền công dân”, vốn “dựa trên sự bình đẳng về quyền lợi và
nghĩa vụ và nhờ có quyền công dân mọi người được hưởng
công lý. Vì thế, trong các xã hội của chúng ta, cần phải nỗ lực
thiết lập ý niệm về quyền công dân đầy đủ và loại bỏ kiểu
nói nhóm thiểu số mang tính kỳ thị là kiểu nói khiến người ta có
cảm giác cách biệt và tự ti, mở đường cho sự thù địch và bất
hòa, phá hỏng các thành tựu và tước đi các quyền tôn giáo và
dân sự của một số công dân bị kỳ thị”[112].
132. Ngoài các biện pháp thiết yếu khác nhau đó, các nước
không thể một mình triển khai các giải pháp thỏa đáng “bởi vì hệ
quả của sự lựa chọn của mỗi quốc gia chắc chắn sẽ có tác
động trên toàn bộ cộng đồng quốc tế”. Do đó, “các đáp ứng chỉ
có thể là kết quả của một công trình chung”[113] thực hiện qua
việc thiết lập một hệ thống luật pháp toàn cầu liên quan đến vấnđề di dân. Trong mọi trường hợp, “cần phải lập ra các kế hoạch
trung hạn và dài hạn, không chỉ giới hạn trong việc ứng phó
khẩn cấp. Những kế hoạch này, một mặt sẽ trợ giúp những
người di dân hội nhập hữu hiệu vào các quốc gia tiếp nhận họ,
mặt khác thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia nguyên quán
của họ thông qua các chính sách liên đới. Tuy nhiên, các chính
sách này không làm cho việc trợ giúp phụ thuộc vào các chiến
lược và những thực hành có tính ý thức hệ xa lạ hoặc mâu
thuẫn với văn hóa của các dân tộc được trợ giúp”[114].
NHỮNG QUÀ TẶNG CHO NHAU
133. Những con người khác nhau, đến từ những cảnh đời và
văn hóa khác nhau, có thể trở nên quà tặng, bởi vì “chuyện di
dân cũng là chuyện gặp gỡ giữa con người và văn hóa: đối với
cộng đồng và xã hội tiếp nhận họ, di dân mang đến cơ hội để
mọi người được giàu thêm kinh nghiệm và để phát triển con
người toàn diện”[115]. Thế nên, “đặc biệt, cha xin các bạn trẻ
đừng tham gia vào các mạng lưới của những kẻ muốn dùng các
con chống lại các bạn trẻ khác di cư đến đất nước của các con,
khi coi họ là những kẻ nguy hiểm và như những người không có
cùng phẩm giá bất khả nhượng riêng cho mỗi người”[116].
134. Mặt khác, khi chúng ta chân thành đón nhận người khác,
điều này sẽ mang lại cho họ những khả năng phát triển mới mẻ
trong khi họ vẫn giữ được bản sắc của mình. Các nền văn hóa
khác biệt, qua nhiều thế kỷ đã ngày càng trở nên phong phú,
cần được giữ gìn kẻo thế giới chúng ta trở nên nghèo nàn.
Đồng thời, những nền văn hóa ấy cần được thúc đẩy để mở ra
với những kinh nghiệm mới qua sự gặp gỡ những thực tại khác.
Chúng ta không nên coi thường nguy cơ trở thành nạn nhân
của sự xơ cứng văn hóa. Đó là lý do tại sao “chúng ta cần giao
tiếp với nhau, khám phá những di sản phong phú của nhau, quý
trọng những gì nối kết chúng ta lại và xem những dị biệt như là
cơ hội phát triển trong sự tôn trọng lẫn nhau. Cần đối thoại
trong kiên nhẫn và tin tưởng. Làm sao để các cá nhân, các gia
đình và các cộng đồng biết chuyển trao những giá trị văn hóacủa mình và đón nhận những giá trị tốt đẹp từ các kinh nghiệm
của người khác”[117].
135. Ở đây tôi muốn đề cập đến vài ví dụ mà tôi đã từng đưa ra.
Văn hóa La-tinh là “một thứ men mà các giá trị và khả năng của
nó đã làm cho đất nước Hoa Kỳ được phong phú thêm về rất
nhiều mặt [...]. Một làn sóng di cư ồ ạt rốt cuộc bao giờ cũng có
ảnh hưởng và làm biến đổi nền văn hóa của một địa phương
[...]. Làn sóng nhập cư ồ ạt từ Ý đã để lại dấu ấn trên nền văn
hóa của xã hội Argentina, và sự có mặt của khoảng 200.000
người Do Thái có ảnh hưởng rất nhiều trên lối sống văn hóa
của thành phố Buenos Aires. Nếu những người di dân được
giúp đỡ hội nhập vào xã hội thì họ là mối phúc lành, là nguồn
phú túc và là quà tặng mới mẻ thúc đẩy xã hội phát triển”[118].
136. Nhìn xa hơn, Đại giáo trưởng Ahmad Al- Tayyeb và tôi đã
ghi nhận rằng “mối quan hệ không gì thay thế và cũng không
được coi nhẹ giữa Đông và Tây hiển nhiên là mối quan hệ thiết
yếu nhờ đó cả hai bên, với nền văn hóa của mình, có thể làm
cho nhau trở nên phong phú, thông qua việc trao đổi và đối
thoại giữa hai nền văn hóa. Phương Tây có thể khám phá nơi
văn minh phương Đông những phương dược cho một số căn
bệnh tâm linh và tôn giáo gây ra bởi sự thống trị của chủ nghĩa
duy vật. Và phương Đông có thể tìm thấy nơi phương Tây nhiều
yếu tố có thể giúp giải thoát khỏi sự yếu nhược, chia rẽ, xung
đột cùng với sự yếu kém về khoa học, kỹ thuật và văn hóa. Cần
phải quan tâm đến các khác biệt về tôn giáo, văn hóa và lịch sử,
vốn là thành tố cốt yếu trong việc định hình nhân cách, văn hóa,
và văn minh của phương Đông. Cũng cần phải củng cố các
quyền căn bản của con người, nhằm góp phần bảo đảm một
đời sống có phẩm giá cho mọi người ở phương Đông và
phương Tây, tránh những chính sách với chuẩn mực nước
đôi”[119].
Một sự trao đổi đầy hoa trái
137. Sự trợ giúp lẫn nhau giữa các quốc gia xét cho cùng sẽ
sinh lợi cho tất cả. Mỗi quốc gia tiến bộ dựa trên nền tảng vănhóa gốc của mình là một kho tàng cho toàn thể nhân loại. Cần
phải ý thức hơn nữa rằng ngày nay hoặc chúng ta cùng được
cứu thoát hoặc không ai được cứu cả. Nghèo đói, suy đồi và
đau khổ ở một vùng nào đó trên trái đất sẽ âm thầm phát sinh ra
nhiều vấn đề mà cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến toàn thể hành
tinh chúng ta. Nếu chúng ta lo lắng vì một chủng loài nào đó bị
tận tuyệt, thì chúng ta lại càng phải lo lắng hơn vì ở nhiều nơi
trên thế giới có những người và những dân tộc mà các tiềm
năng và vẻ đẹp của họ không được phát triển do nghèo đói hay
bởi những giới hạn khác về cơ cấu. Bởi vì, chuyện này cuối
cùng rồi sẽ làm tất cả chúng ta trở nên nghèo nàn.
138. Nếu điều đó đã luôn luôn đúng, thì ngày nay nó đúng hơn
bao giờ hết, vì thế giới hiện tại liên kết với nhau rất chặt chẽ bởi
hiện tượng toàn cầu hóa. Chúng ta cần đạt được một trật tự
pháp lý, chính trị và kinh tế có tính toàn cầu, khả dĩ “làm gia
tăng và định hướng cho việc hợp tác quốc tế vì sự phát triển tất
cả các dân tộc trong tình liên đới”[120]. Cuối cùng, điều này sẽ
mang lại lợi ích cho toàn thế giới, bởi vì “việc trợ giúp cho các
nước nghèo được phát triển” cũng có nghĩa là “tạo nên của cải
cho mọi người”[121]. Từ quan điểm phát triển toàn diện, điều
này cũng giả thiết phải “để cho các nước nghèo có tiếng nói
hữu hiệu đóng góp vào những quyết định chung”[122] và “tạo
điều kiện cho các nước nghèo và kém phát triển dễ dàng tiếp
cận với thị trường quốc tế”[123].
Sẵn sàng đón tiếp vô điều kiện
139. Tuy nhiên, tôi không muốn giản lược ý tưởng này vào một
loại thuyết vị lợi. Cần có tinh thần “vô vị lợi”. Đó là khả năng làm
điều gì đó chỉ vì tự thân điều ấy là tốt, không mong nhận được
kết quả nào, không mong được đền đáp tức thời. Tinh thần vô
vị lợi khiến chúng ta có thể đón tiếp người xa lạ, ngay cả khi
điều này không đem lại cho chúng ta lợi ích cụ thể nào. Thực tế,
một số quốc gia chỉ muốn đón nhận các nhà khoa học hoặc các
nhà đầu tư mà thôi.140. Ai không sống tình huynh đệ vô vị lợi thì cuộc sống người
ấy sẽ biến thành cuộc mua bán đổi chác nhọc nhằn, luôn cân
đo đong đếm điều mình cho đi và nhận lại. Trái lại, Thiên Chúa
luôn trao tặng một cách vô vị lợi, đến độ Ngài trợ giúp cả những
người bất tín với Ngài. “Người cho mặt trời của Người mọc lên
soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt” (Mt 5,45). Đó là lý do tại
sao Chúa Giêsu dạy chúng ta: “Khi bố thí, đừng cho tay trái biết
việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo” (Mt 6,3-4).
Chúng ta đón nhận sự sống cách nhưng không, chúng ta đã
không phải trả giá nào cho sự sống cả. Do đó, tất cả chúng ta
có thể cho đi mà không mong được đền đáp bất cứ điều gì, làm
điều tốt lành cho người khác mà không đòi hỏi họ phải đáp lại
bằng cách đối xử tốt với mình. Như Chúa Giêsu đã nói với các
môn đệ: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không
như vậy” (Mt 10,8).
141. Giá trị thực sự của các quốc gia trên thế giới được đo bằng
khả năng ý thức mình không chỉ là một quốc gia mà còn như
một gia đình của nhân loại. Điều này được đặc biệt tỏ lộ trong
các thời kỳ khủng hoảng. Các hình thức chủ nghĩa dân tộc hẹp
hòi, xét cho cùng, là biểu hiện của việc không có khả năng sống
tinh thần vô vị lợi này. Họ sai lầm khi nghĩ rằng có thể tự mình
phát triển mà chẳng quan tâm gì đến thảm họa ở các quốc gia
khác, và cho rằng đóng kín cửa thì sẽ được bảo vệ tốt hơn. Di
dân bị coi là kẻ đến chiếm đoạt chẳng cống hiến được gì. Điều
này dẫn họ đến niềm tin ngây ngô cho rằng người nghèo thì
nguy hiểm hoặc vô dụng, trong khi người có quyền lực là ân
nhân đầy lòng quảng đại. Chỉ có nền văn hóa xã hội và chính trị
nào sẵn sàng đón tiếp người khác một cách vô vị lợi mới có
tương lai.
ĐỊA PHƯƠNG VÀ TOÀN CẦU
142. Chúng ta nên nhớ rằng “có sự căng thẳng giữa toàn cầu
hóa và địa phương hóa. Chúng ta cần lưu ý đến tầm vóc toàn
cầu để không rơi vào suy nghĩ hẹp hòi nông cạn. Đồng thời
cũng cần để mắt đến những gì xảy ra ở địa phương, là nơi chân
chúng ta chạm đất. Cả hai chiều kích ấy hợp lại giúp chúng takhông bị rơi vào hai thái cực. Ở thái cực này, các công dân phải
sống trong một thế giới toàn cầu hóa trừu tượng. [...] Ở thái cực
kia, họ trở thành một viện bảo tàng dân gian địa phương, một
thế giới tách biệt, cứ quanh quẩn mãi với những cái cũ kỹ,
không có khả năng đối mặt với những thách thức khác lạ và quý
chuộng cái đẹp mà Thiên Chúa ban cho bên ngoài biên giới của
mình”[124]. Chúng ta cần có một tầm nhìn mang tính toàn cầu
để giải thoát mình khỏi não trạng địa phương cục bộ. Khi ngôi
nhà của chúng ta không còn là tổ ấm và bắt đầu trở thành một
khu nội cấm, một nhà tù, thì tầm nhìn toàn cầu sẽ giải cứu
chúng ta, vì nó như là một “nguyên nhân cứu cánh” sẽ lôi kéo
chúng ta đến chỗ thành toàn. Đồng thời, cũng phải nhiệt tâm
gìn giữ tính địa phương, vì tính địa phương có cái mà tính toàn
cầu không có. Đó là khả năng trở nên men, đem lại sự phong
phú, kích hoạt các cơ chế bổ trợ. Vì thế tình huynh đệ phổ quát
và tình bằng hữu xã hội là hai cực không thể tách rời và cùng
mang tình cốt yếu của mọi xã hội. Tách rời hai yếu tố ấy sẽ làm
mỗi bên biến dạng và tạo ra sự phân cực nguy hiểm.
Sắc thái địa phương
143. Giải pháp ở đây không phải là một sự cởi mở để rồi phá bỏ
kho tàng riêng của mình. Không thể có đối thoại với người khác
mà không ý thức về căn tính của mình, cũng vậy, không thể có
sự cởi mở giữa hai dân tộc nếu không phát xuất từ tình yêu đối
với đất nước, dân tộc và cội rễ văn hóa của mình. Chúng ta
không thể thật sự gặp gỡ người khác nếu không đứng trên một
nền móng vững chắc, vì chính trên nền móng này mà chúng ta
có thể đón nhận quà tặng của người khác, và trao tặng món
quà đích thực của mình. Chúng ta chỉ có thể tiếp đón tha nhân,
là những người khác biệt, và trân trọng sự đóng góp độc đáo
của họ khi chúng ta bén rễ chắc chắn trong dân tộc và văn hóa
của mình. Mỗi người, với tất cả trách nhiệm, hãy yêu mến,
chăm sóc xứ sở và lo lắng cho quê hương đất nước của mình,
cũng như mỗi người phải yêu mến và chăm sóc ngôi nhà của
mình để nó khỏi sụp đổ, vì những người hàng xóm sẽ chẳng
làm điều đó thay ta. Cũng thế, thiện ích chung của thế giới đòihỏi mỗi người phải bảo vệ và yêu mến quê hương mình. Nếu
không, hậu quả của các thảm họa ở mỗi quốc gia cuối cùng sẽ
ảnh hưởng đến toàn thể hành tinh. Những điều này làm nổi bật
ý nghĩa tích cực của quyền sở hữu tài sản: Tôi bảo vệ và vun
trồng những gì tôi sở hữu, sao cho nó có thể góp phần vào
thiện ích của mọi người.
144. Hơn nữa, điều đó cũng giả thiết phải có những cuộc trao
đổi lành mạnh và phong phú. Kinh nghiệm sống ở một nơi và
trong một nền văn hóa cụ thể là cơ sở cho phép ta hiểu biết sâu
xa những khía cạnh của thực tại mà những người không có
kinh nghiệm đó không thể dễ dàng nắm bắt được. Phổ quát
toàn cầu không nhất thiết có nghĩa là mọi sự đều thuần nhất,
đồng dạng, và chuẩn hóa theo một mô hình văn hóa phổ biến
duy nhất, vì điều này rốt cuộc sẽ làm mất đi nét phong phú đa
diện muôn sắc màu và tất cả sẽ hóa ra tẻ nhạt. Đó chính là cám
dỗ như trong trình thuật cổ xưa về Tháp Babel: cố gắng xây nên
một ngọn tháp vươn tới trời nhưng không diễn tả sự hiệp nhất
giữa các dân tộc có khả năng thông truyền cho nhau sự đa
dạng của mình. Trái lại, đó là một nỗ lực sai lầm, phát xuất từ
lòng kiêu ngạo và tham vọng muốn tạo nên một sự hiệp nhất
khác với sự hiệp nhất mà Thiên Chúa muốn trong kế hoạch
quan phòng của Ngài dành cho các dân tộc (x. St 11,1-9).
145. Việc mở ra với chiều kích phổ quát có thể là giả hiệu, khi
phát xuất từ những người nông cạn, không có khả năng thấu
hiểu tận cùng những thực tại của xứ sở mình, hoặc những
người còn nuôi dưỡng sự oán hận khôn nguôi đối với dân tộc
mình. Dù trường hợp nào đi nữa, “phải không ngừng mở rộng
tầm nhìn để thấy rõ sự thiện hảo lớn hơn đem lại lợi ích cho tất
cả chúng ta. Nhưng cần phải làm như thế, không thoái thác
cũng không để bị mất gốc. Cần phải bén rễ sâu hơn vào mảnh
đất màu mỡ và lịch sử của chính xứ sở mình, vốn là quà tặng
của Thiên Chúa. Chúng ta có thể làm những việc nhỏ bé, gần
gũi trong tầm tay, nhưng với một tầm nhìn rộng lớn hơn. [...]
Đây không phải là một khối cầu tròn trịa gây hủy bỏ, cũng không
phải là một bộ phận tách rời làm cằn cỗi”[125], mà là một khốiđa diện, trong đó giá trị của mỗi cá nhân được tôn trọng, ở đó
“toàn thể thì lớn hơn từng phần, và cũng lớn hơn tổng số các
thành phần”[126].
Chân trời phổ quát
146. Có những thứ ái kỉ, bị ám ảnh bởi tính cục bộ địa phương,
chứ không phải là tình yêu lành mạnh đối với dân tộc và văn
hóa của mình. Những người ái kỉ đó che giấu một não trạng
khép kín, bởi sự bất an và lo sợ nào đó đối với người khác, từ
đó muốn dựng lên những bức tường bảo vệ chính mình. Thế
nhưng, không thể có cảm thức “địa phương” lành mạnh mà lại
thiếu tinh thần cởi mở chân thành và thân thiện đối với thực tại
phổ quát, không cảm thấy bị chất vấn bởi những gì đang xảy ra
ở nơi khác, không để cho mình được phong phú hơn nhờ các
nền văn hóa khác cũng như không liên đới và quan tâm tới
những thảm kịch đang xảy đến với các dân tộc khác. Trong khi
đó, người ái kỉ mang tính địa phương cục bộ cứ quanh quẩn
thường xuyên với một số ý nghĩ, một vài thói quen và hình thức
an toàn nào đó, không có khả năng thán phục trước vô vàn
những tiềm năng và vẻ đẹp được cả thế giới rộng lớn dâng hiến;
họ thiếu tinh thần liên đới chân thực và quảng đại. Với lối sống
mang não trạng cục bộ địa phương như thế, người ta sẽ không
còn thực sự đón nhận gì nữa, sẽ không còn mở ra để người
khác giúp mình hoàn thiện. Bởi thế, người ta chỉ giới hạn và
dựa vào khả năng riêng để phát triển bản thân; cuộc sống trở
nên tù hãm và bệnh hoạn. Vì, thật ra, một nền văn hóa lành
mạnh tự bản chất thì cởi mở và hiếu khách, “một nền văn hóa
mà không có các giá trị phổ quát thì đó không phải là một nền
văn hóa thật”[127].
147. Phải nhìn nhận rằng khi tâm hồn và trí óc của chúng ta
càng hạn hẹp thì chúng ta càng ít có khả năng thấu hiểu thực
tại chung quanh mình. Nếu không gặp gỡ và tiếp xúc với những
người khác với mình, chúng ta sẽ khó biết rõ và đầy đủ về chính
mình, về quê hương xứ sở mình. Các nền văn hóa khác không
phải là “kẻ thù” mà chúng ta cần phải chiến đấu để bảo vệ mình,
nhưng là những phản ánh khác nhau trong kho tàng phong phúvô tận của đời sống con người. Nhìn mình từ quan điểm của
một người khác, khác với mình, chúng ta có thể dễ dàng nhận
thấy và nhận thấy rõ ràng hơn những nét độc đáo của bản thân
cũng như của nền văn hóa của mình: sự phong phú, những khả
năng và những giới hạn của nó. Kinh nghiệm địa phương của
chúng ta cần được triển nở trong “sự tương phản” cũng như
trong “sự hòa hợp” với kinh nghiệm của những người sống
trong các bối cảnh văn hóa khác[128].
148. Thật ra, sự cởi mở lành mạnh sẽ chẳng bao giờ đe dọa
bản sắc riêng của ai cả. Được thêm phong phú nhờ các yếu tố
đến từ nơi khác, một nền văn hóa sống động không du nhập
hay chỉ sao chép, nhưng hội nhập các yếu tố mới ấy theo
phương cách độc đáo của mình. Kết quả chung cuộc là một
tổng hợp mới có ích cho tất cả, vì chính nền văn hóa nguyên
gốc ấy cũng được nuôi dưỡng phát triển. Bởi thế tôi khuyến
khích các dân bản xứ bảo tồn cội rễ và nền văn hóa tổ tiên của
mình. Tuy nhiên, tôi muốn xác định rằng tôi không có ý định đề
nghị một “chủ nghĩa bản địa” hoàn toàn khép kín, phi lịch sử,
tĩnh tại, loại bỏ mọi pha trộn khác”, vì “bản sắc văn hóa riêng
được đào sâu và trở nên phong phú là nhờ đối thoại với các
nền văn hóa khác và phương cách thật sự bảo tồn nó không
phải là cô lập mình, là điều chỉ làm mình nghèo nàn đi”[129].
Thế giới phát triển và chứa đầy vẻ đẹp mới mẻ nhờ những tổng
hợp nối tiếp nhau được phát sinh giữa các nền văn hóa cởi mở
và không có bất cứ hình thức áp đặt văn hóa nào.
149. Để có một mối tương quan lành mạnh giữa tình yêu quê
hương và ý thức mình thuộc về gia đình nhân loại rộng lớn,
chúng ta nên nhớ rằng xã hội toàn cầu không phải là tổng số
các quốc gia khác nhau, nhưng đúng hơn đó chính là sự hiệp
thông giữa các quốc gia, ý thức thuộc về nhau có trước sự xuất
hiện các nhóm riêng. Mỗi nhóm người riêng biệt là một thành
phần tháp nhập trong mối hiệp thông phổ quát, và khám phá ra
vẻ đẹp của mình ở đó. Thế nên, mỗi người sinh ra, dù trong bối
cảnh riêng nào, cũng biết rằng mình thuộc về một gia đình nhânloại rộng lớn hơn, nếu không có gia đình lớn ấy thì mình không
thể hiểu được mình đầy đủ.
150. Tầm nhìn đó, sau cùng đòi chúng ta phải vui mừng chấp
nhận rằng không một dân tộc nào, nền văn hóa nào hay cá
nhân nào có thể tự mình đạt được mọi thứ. Để xây dựng một
cuộc sống viên mãn chúng ta rất cần đến những người khác. Ý
thức về những giới hạn và bất toàn của mình không hề là mối
đe dọa, nhưng lại là chìa khóa để chúng ta mơ ước và theo đuổi
một dự án chung. Bởi lẽ “con người là một hữu thể hữu hạn
không giới hạn”[130].
Bắt đầu từ chính khu vực của mình
151. Nhờ sự trao đổi giữa các khu vực, các nước nghèo được
mở ra với thế giới rộng lớn hơn, và tính phổ quát không nhất
thiết làm tan biến tính đặc thù của vùng. Một sự mở ra thích
đáng và chân thực với thế giới bao hàm khả năng biết mở ra
với láng giềng của mình trong gia đình các dân tộc. Sự hội nhập
văn hóa, chính trị và kinh tế với các dân tộc lân cận nên đi kèm
với một tiến trình giáo dục cổ võ giá trị về tình yêu đối với láng
giềng, đó là bước đầu rất quan trọng hướng tới sự hội nhập phổ
quát lành mạnh.
152. Ở một số khu vực lao động trong các thành phố của chúng
ta, người dân vẫn có ý thức sống động về tình láng giềng. Mỗi
người đều tự nhiên cảm thấy trách nhiệm tối lửa tắt đèn có
nhau. Ở những nơi vẫn còn giữ được các giá trị cộng đồng này,
người ta sống tương quan thân tình mang đặc điểm vô vị lợi,
liên đới và tương trợ, khởi đi từ cảm thức về cái chung “chúng
ta” trong cùng một khu phố.[131] Ước chi các quốc gia lân bang
cũng sống tinh thần như thế, nhờ đó có thể cổ võ các mối tương
quan nồng ấm giữa các dân tộc của họ. Tuy nhiên, nhãn quan
cá nhân chủ nghĩa cũng có ảnh hưởng đến các mối quan hệ
giữa các quốc gia. Tâm thức nghĩ rằng chúng ta phải tự bảo vệ
mình và xem người khác như đối thủ hay kẻ thù nguy hiểm, có
nguy cơ ảnh hưởng đến các mối quan hệ giữa các dân tộctrong vùng. Có lẽ vì chúng ta đã được dạy dỗ trong bầu khí sợ
hãi và nghi ngờ như thế.
153. Có những cường quốc và những doanh nghiệp lớn hưởng
lợi từ sự cô lập này, và thích đàm phán riêng với từng quốc gia.
Trái lại, khi các quốc gia nhỏ hay nghèo có thể ký kết hiệp ước
với các nước láng giềng trong khu vực, điều này cho phép họ
thương thuyết trong tư cách một khối, và như vậy tránh được
nguy cơ bị xé lẻ và phụ thuộc vào các nước lớn. Ngày nay,
không Nhà nước nào cô lập mà lại có thể bảo đảm thiện ích
chung cho dân nước mình.
CHƯƠNG NĂM:
MỘT NỀN CHÍNH TRỊ TỐT ĐẸP HƠN
154. Để phát triển một cộng đồng huynh đệ toàn cầu dựa trên
việc sống tình bằng hữu xã hội của các dân tộc và các quốc gia,
chúng ta cần một nền chính trị tốt đẹp hơn, nhằm phục vụ thực
sự cho thiện ích chung. Nhưng thật đáng buồn, nhiều nền chính
trị ngày nay thường mang những hình thức cản trở tiến trình
hướng về một thế giới khác.
CÁC HÌNH THỨC CHỦ NGHĨA DÂN TÚY VÀ CHỦ NGHĨA TỰ
DO
155. Việc coi thường những người yếu kém có thể ẩn sau
những hình thức của chủ nghĩa dân túy, chuyên mị dân nhằm
lợi dụng họ, phục vụ cho các mục đích riêng của nó; hoặc
những hình thức của chủ nghĩa tự do phục vụ cho các lợi ích
kinh tế của những kẻ quyền lực. Trong cả hai trường hợp,
chúng ta khó mà nghĩ về một thế giới mở ra có chỗ đứng cho
mọi người, bao gồm những người yếu kém nhất, và là thế giới
biết tôn trọng các nền văn hóa khác nhau.
“Thuộc về dân” hay “dân túy”
156. Trong những năm gần đây, các từ “chủ nghĩa dân túy” và
“người theo chủ nghĩa dân túy” đã tràn ngập các phương tiện
truyền thông và trong ngôn ngữ hằng ngày. Thế nên những từngữ ấy đã mất đi giá trị mà chúng đã từng có, và làm cho xã hội
vốn dĩ đã chia rẽ trở nên phân cực. Tình trạng đi đến mức
người ta đang cố phân loại tất cả mọi người, mọi nhóm, mọi xã
hội và chính quyền là “dân túy” hay “không dân túy”. Ngày nay,
một người không thể bày tỏ quan điểm của mình về bất cứ chủ
đề nào mà không bị xếp loại cách này hay cách khác, hoặc để
bị hạ uy tín cách bất công hoặc để được ca tụng đến tận mây
xanh.
157. Ý muốn xem chủ nghĩa dân túy như chìa khóa giải thích
thực tại xã hội tạo ra một vấn đề khác: người ta quên lãng ý
nghĩa chính đáng của khái niệm “dân”. Bất cứ cố gắng nào
nhằm gỡ bỏ khái niệm này khỏi ngôn ngữ thông thường đều có
thể dẫn đến việc loại trừ chính khái niệm dân chủ được hiểu là
“chính quyền của dân”. Dù vậy, để khẳng định xã hội là cái gì
hơn nữa chứ không chỉ là một tập hợp các cá nhân, thì cần thiết
phải sử dụng hạn từ “dân”. Thực tế có những hiện tượng xã hội
tạo ra các nhóm đa số, có các xu hướng lớn và các khát vọng
mang tính cộng đồng. Hơn nữa, họ có thể nghĩ đến những mục
tiêu chung vượt trên các khác biệt để cùng thực hiện một dự án
chung. Sau cùng, sẽ rất khó thực hiện một dự án lớn dài hạn
nào đó nếu điều ấy không trở thành nguyện vọng chung của
mọi người. Tất cả những yếu tố này nằm phía sau cách chúng
ta dùng những từ “dân” và “thuộc về dân”. Nếu chúng không
được xem xét cẩn thận - với sự phê bình thích đáng về trò mị
dân - thì rất có thể người ta đã bỏ qua một trong những khía
cạnh căn bản của thực tại xã hội.
158. Ở đây, có thể có hiểu lầm. ““Dân” không phải là một phạm
trù luận lý học, cũng không phải là một phạm trù huyền nghiệm,
nếu qua những từ đó chúng ta muốn nói rằng mọi sự dân làm
đều tốt, hoặc cho rằng người dân là thực tại ‘thiên thần'. Đúng
hơn, đó là một phạm trù huyền thoại [...]. Khi bạn muốn giải
nghĩa thế nào là một dân tộc, bạn dùng các phạm trù luận lý để
giải thích, bởi vì bạn phải làm như thế. Nhưng nếu theo cách đó
bạn sẽ không thể giải thích được ý nghĩa việc thuộc về một dân
tộc. Khái niệm “dân” có ý nghĩa sâu xa hơn, không thể trình bàybằng ngôn ngữ luận lý. Thuộc về một dân là tham dự vào căn
tính chung phát sinh từ các mối liên kết xã hội và văn hóa. Và
đó không phải là cái gì có tính tự động, nhưng là một quá trình
chậm chạp và khó khăn... tiến tới một dự phóng chung”[132].
159. Có những vị thủ lãnh “thuộc về dân”. Họ là những người có
khả năng diễn giải được cảm xúc và tính năng động văn hóa
của dân tộc mình, cũng như các xu thế lớn quan trọng trong xã
hội. Nỗ lực phục vụ của họ, qua cố gắng tập hợp và lãnh đạo,
có thể trở thành cơ sở cho một dự phóng dài hạn để thay đổi và
tăng trưởng, bao hàm việc thừa nhận vị trí của người khác trong
việc theo đuổi thiện ích chung. Nhưng điều này có thể bị thoái
hóa để thành một thứ “chủ nghĩa dân túy” không lành mạnh, đó
là khi khả năng lãnh đạo biến thành tài khéo léo hấp dẫn của
một cá nhân, dùng nền văn hóa dân tộc làm khí cụ chính trị,
nhờ vào ngọn cờ ý thức hệ nào đó, để phục vụ cho kế hoạch cá
nhân và để tiếp tục nắm giữ quyền lực. Hoặc có khi, họ tìm
cách lấy lòng dân bằng cách khơi gợi những xu hướng hạ cấp
và ích kỉ của một số thành phần dân chúng. Sự việc càng trở
nên nghiêm trọng khi các cơ chế và luật pháp bị khống chế, với
những chiêu trò thô thiển hay tinh tế.
160. Các nhóm dân túy khép kín làm lệch lạc ý nghĩa của từ
“dân”, vì thực tế những gì họ nói không thực sự là nói về dân.
Thực ra, phạm trù “dân” có tính mở ra. Một dân sống động,
năng động, hướng tới tương lai, là một dân không ngừng mở ra
đón nhận một tổng hợp mới, qua khả năng đón nhận các khác
biệt. Để thực hiện như thế, dân ấy không phủ nhận căn tính của
mình, nhưng sẵn sàng để được thúc đẩy, được thách thức,
được mở rộng và nhờ người khác được thêm phong phú, và do
đó mà có tiến bộ.
161. Một dấu hiệu khác cho thấy sự suy giảm khả năng lãnh
đạo thuộc về dân là việc tìm kiếm những lợi ích trước mắt. Việc
đáp ứng các yêu sách của dân chỉ để bảo đảm số phiếu bầu
hay tìm kiếm sự ủng hộ, nhưng lại chẳng có tiến bộ trong các
nỗ lực gian nan và bền bỉ nhằm cung ứng cho người dân các
nguồn lực giúp họ phát triển và sinh sống bằng chính những cốgắng và khả năng sáng tạo của họ. Về phương diện này, tôi đã
tuyên bố rõ là “tôi không có ý định đề ra một thứ chủ nghĩa dân
túy vô trách nhiệm”[133]. Một mặt, việc xóa bỏ sự bất bình đẳng
đòi hỏi phải phát triển kinh tế, bằng cách khai thác tiềm năng
của mỗi vùng và như thế bảo đảm được sự bình đẳng bền
vững[134]. Mặt khác, “chỉ nên xem các dự án phúc lợi xã hội
đáp ứng các nhu cầu khẩn cấp như những giải pháp tạm
thời”[135].
162. Vấn đề lớn nhất là việc làm. Đây thực sự là vấn đề “của
dân” - bởi vì nó cổ võ thiện ích của dân - đó là cung ứng cho
mọi người cơ hội để những hạt giống mà Thiên Chúa đã gieo
trồng trong mỗi người được nảy mầm, là các tài năng, sáng kiến
và sức khỏe. Đây là sự trợ giúp tốt nhất có thể dành cho người
nghèo, là con đường tốt nhất dẫn đến một cuộc sống có phẩm
giá. Do đó, tôi xin nhấn mạnh rằng, “việc giúp đỡ người nghèo
về mặt tài chính luôn phải được xem chỉ là một giải pháp tình
thế tạm thời trước nhu cầu cấp bách. Mục tiêu thật sự luôn phải
là giúp họ có một cuộc sống xứng với nhân phẩm qua công việc
của họ”[136]. Vì các hệ thống sản xuất hay thay đổi, nên các
chính sách phải lo sao để cơ cấu tổ chức xã hội bảo đảm cho
mọi người đều có cơ hội đóng góp tài năng và những cố gắng
của mình. Thật vậy, “không có cái nghèo nào tệ hại hơn cái
nghèo của người lao động bị tước mất việc làm và phẩm
giá”[137]. Trong một xã hội thực sự tiến bộ, việc làm là chiều
kích thiết yếu của đời sống xã hội, vì việc làm không chỉ là
phương kế sinh nhai mà còn là phương tiện giúp phát triển
nhân vị, xây dựng các tương quan lành mạnh, thể hiện chính
mình và chia sẻ các tài năng Chúa ban. Việc làm còn cho chúng
ta ý thức về trách nhiệm cải tạo thế giới, và cuối cùng, để chúng
ta sống như một người dân.
Các lợi điểm và giới hạn của những quan điểm tự do
163. Khái niệm “dân tộc”, bao hàm một quan điểm tích cực về
các mối liên kết cộng đồng và văn hoá, thường bị bác bỏ bởi
các quan điểm tự do theo chủ nghĩa cá nhân, vốn coi xã hội chỉ
là tổng thể của các lợi ích cùng tồn tại. Người ta nói về việc tôntrọng tự do, nhưng lại chẳng bắt nguồn từ một lịch sử chung;
trong một vài hoàn cảnh, những người bảo vệ quyền lợi của
những thành viên dễ bị tổn thương nhất trong xã hội thường bị
chỉ trích là những người theo chủ nghĩa dân túy. Khái niệm dân
tộc bị coi là một cấu trúc trừu tượng, một điều không thực sự
tồn tại. Nhưng điều này sẽ tạo ra một sự phân cực không cần
thiết, vì cả khái niệm “dân tộc” lẫn khái niệm “người thân cận”
đều không thể bị coi là thuần túy trừu tượng hay lãng mạn, theo
cách phủ nhận hay coi thường các tổ chức xã hội, khoa học và
dân sự[138].
164. Mặt khác, bác ái hợp nhất cả hai chiều kích - trừu tượng và
định chế - vì nó đòi hỏi một quá trình thay đổi lịch sử hiệu quả
bao gồm mọi thứ: định chế, pháp luật, kỹ thuật, kinh nghiệm,
giám định chuyên môn, phân tích khoa học, thủ tục hành chính,
v.v... Thật vậy, “không thể có cuộc sống riêng tư nếu không
được trật tự công bảo vệ. Một mái ấm gia đình sẽ không thực
sự đầm ấm nếu không được bảo vệ bởi luật pháp, bởi một trạng
thái yên bình dựa trên luật pháp, với mức an sinh tối thiểu được
bảo đảm bởi sự phân công lao động, trao đổi thương mại, công
bằng xã hội và quyền công dân chính trị”[139].
165. Lòng bác ái đích thực có khả năng kết hợp tất cả những
yếu tố này trong mối quan tâm đối với người khác. Trong
trường hợp gặp gỡ cá vị, cả khi gặp gỡ những anh chị em ở xa
hoặc bị lãng quên, lòng bác ái có thể làm được như vậy bằng
cách sử dụng mọi phương tiện mà các thể chế của một xã hội
có tổ chức, tự do và sáng tạo có khả năng tạo ra. Chẳng hạn,
ngay cả người Samari nhân hậu cũng cần có một quán trọ gần
đó có thể cung cấp sự trợ giúp mà cá nhân anh không có. Tình
yêu thương người thân cận phải thực tế và không lãng phí
những gì cần thiết để thay đổi lịch sử nhằm mang lại lợi ích cho
người nghèo và người thiệt thòi. Tuy nhiên, đôi khi, các ý thức
hệ cánh tả hay các học thuyết xã hội gắn với cách hành động
cá nhân chủ nghĩa và các phương thức không hiệu quả chỉ ảnh
hưởng đến một số ít người, đang khi phần lớn những người bị
bỏ rơi thì lại phó mặc cho thiện chí của người khác. Điều nàycho thấy không những cần có một tinh thần huynh đệ lớn hơn,
mà còn phải có một tổ chức thế giới hiệu quả hơn để giúp giải
quyết các vấn đề đang khiến cho những người bị bỏ rơi đang
sống lao đao ngắc ngoải ở các nước nghèo phải khốn khổ. Nó
cũng cho thấy rằng không có một giải pháp nào, không có một
phương pháp luận được chấp nhận nào, không có một công
thức kinh tế nào có thể áp dụng đồng đều cho tất cả. Ngay cả
những nghiên cứu khoa học nghiêm ngặt nhất cũng có thể đề
xuất các hướng hành động khác nhau.
166. Thế nên, mọi sự đều phụ thuộc vào khả năng nhìn ra nhu
cầu phải thay đổi tâm hồn, thái độ và lối sống của chúng ta. Nếu
không, các tuyên truyền chính trị, các phương tiện truyền thông
và những kẻ định hình công luận sẽ tiếp tục cổ võ một nền văn
hóa cá nhân chủ nghĩa và ngây thơ trước những lợi ích kinh tế
vô độ và định chế xã hội chỉ phục vụ những người đã được
hưởng quá nhiều quyền lực. Lời phê phán của tôi về mô hình kỹ
trị không hề ngụ ý rằng nếu chúng ta kiểm soát được các thái
quá của nó thì mọi sự sẽ ổn. Nguy cơ lớn hơn không do các sự
vật, các thực tại vật chất hay các thể chế, mà do cách chúng
được sử dụng. Nó liên quan đến sự yếu đuối của con người, xu
hướng ích kỷ - là điều mà truyền thống Kitô giáo gọi là “dục
vọng”: đó là khuynh hướng nơi con người, chỉ quan tâm đến cái
tôi của mình, nhóm của mình, những quyền lợi nhỏ nhen của
riêng mình. Dục vọng không phải là một thói xấu chỉ có ở thời
đại của chúng ta. Nó đã có mặt từ khi có con người, nó chỉ thay
đổi và mang những hình thức khác nhau qua các thời đại, bằng
cách sử dụng bất cứ phương tiện nào mà mỗi giai đoạn lịch sử
đem đến cho nó. Tuy nhiên, có thể chế ngự được dục vọng nhờ
sự trợ giúp của Thiên Chúa.
167. Giáo dục và chăm sóc, quan tâm đến người khác, cái nhìn
toàn diện về cuộc sống và sự phát triển tinh thần: tất cả những
điều này đều là thiết yếu để có được các mối tương quan nhân
bản có phẩm chất cao và giúp xã hội chống lại những bất công,
lệch lạc và lạm dụng kinh tế, kỹ thuật, chính trị và sức mạnh
truyền thông. Một số quan điểm tự do bỏ qua nhân tố này về sựyếu kém của con người và hình dung một thế giới tuân theo một
trật tự đã định sẵn, trật tự này tự nó có khả năng bảo đảm một
tương lai tươi sáng và cung cấp giải pháp cho mọi vấn đề.
168. Thị trường, tự nó, không thể giải quyết mọi vấn đề, ngay
cả khi người ta cứ muốn chúng ta tin vào tín điều tân tự do này.
Trước bất kỳ thử thách nào, lối suy nghĩ nghèo nàn và lặp đi lặp
lại này luôn đưa ra cùng một công thức. Chủ nghĩa tân tự do chỉ
đang tái sinh khi sử dụng các khái niệm ma thuật “chảy tràn”
hoặc “nhỏ giọt” - mà không gọi đích danh - như một giải pháp
duy nhất cho các vấn đề xã hội. Nó không nhận ra rằng cái gọi
là “chảy tràn” không giải quyết được tình trạng bất bình đẳng,
vốn là nguồn gốc phát sinh những hình thức bạo lực mới đe
dọa kết cấu của xã hội. Nhất thiết phải có một chính sách kinh
tế chủ động nhằm “cổ võ một nền kinh tế thiên về đa dạng trong
sản xuất và sáng tạo trong kinh doanh”[140] giúp tạo thêm việc
làm chứ không phải cắt giảm. Đầu cơ tài chính, chủ yếu nhằm
thu lợi nhuận nhanh chóng, tiếp tục gây tàn phá. Thật vậy, “nếu
không có các hình thức nội tại về sự liên đới và tin tưởng hỗ
tương, thị trường không thể chu toàn phận vụ kinh tế một cách
trọn vẹn được. Và ngày nay sự tin tưởng này đã mất đi rồi”[141].
Kết quả cuối cùng không đúng như dự kiến, và các công thức
giáo điều của lý thuyết kinh tế đang thịnh hành đã chứng tỏ
không phải là không sai lầm. Tính mong manh của các hệ thống
thế giới khi đối đầu với đại dịch đã cho thấy rõ rằng không phải
mọi sự đều có thể được giải quyết bằng tự do thị trường. Nó
cũng chứng tỏ rằng, ngoài việc khôi phục một đời sống chính trị
lành mạnh không lệ thuộc vào tài chính, “chúng ta phải đặt nhân
phẩm trở lại trung tâm và trên trụ cột đó, xây dựng các cấu trúc
xã hội thay thế mà chúng ta cần có”[142].
169. Chẳng hạn một số phương thức kinh tế đóng kín và
chuyên biệt hóa, dường như không dành chỗ cho các phong
trào bình dân đại chúng vốn liên kết những người thất nghiệp,
người lao động thời vụ và không chính thức cùng với biết bao
người không dễ tìm được việc làm trong các cơ cấu hiện hành.
Tuy nhiên, những phong trào đó lại điều hành nhiều loại hìnhkinh tế bình dân và sản xuất cộng đồng. Cần phải nghĩ đến một
mô hình xã hội, chính trị và kinh tế sao cho có thể huy động sự
tham gia “của cả các phong trào bình dân, đồng thời tiếp sức
cho các hệ thống quản lý địa phương, quốc gia và quốc tế nhờ
nguồn năng lực đạo đức phát sinh từ việc cả những người bị
loại trừ cũng được góp phần kiến tạo một vận mệnh chung”,
trong khi cũng phải bảo đảm rằng “những phong trào này,
những kinh nghiệm liên đới phát triển từ dưới lên, từ tầng đất
nền, có thể quy tụ, phối hợp chặt chẽ hơn và tiếp tục gặp gỡ
nhau”.[143] Tuy nhiên, điều này phải diễn ra sao cho không đi
ngược lại cách thức hoạt động đặc trưng của họ, vì họ là
“những người gieo mầm thay đổi, những người thúc đẩy một
tiến trình hội tụ hàng triệu hành động lớn nhỏ được đan dệt
cách sáng tạo như các câu chữ trong một bài thơ”[144]. Theo
nghĩa này, họ chính là “những nhà thơ xã hội”, những người
hoạt động, đề xướng, cổ võ và giải phóng theo cách của mình.
Nhờ họ mới có thể có được sự phát triển con người toàn diện
vượt ra khỏi “ý tưởng coi các chính sách xã hội như chính sách
nhắm vào người nghèo, chứ không hề là các chính sách với
người nghèo và của người nghèo, lại càng không nằm trong dự
án liên kết mọi người”[145]. Họ có thể gây phiền toái và khó
phân loại đối với một số “lý thuyết gia”, nhưng chúng ta phải can
đảm nhìn nhận rằng, nếu không có họ, “nền dân chủ sẽ trở nên
èo uột, chỉ còn là một cái tên, chỉ là hình thức; mất đi nét đặc
trưng tiêu biểu của nó và trở thành vô hồn, vì đã gạt bỏ con
người trong cuộc đấu tranh liên lỉ cho phẩm giá và trong việc
xây dựng vận mạng của con người”[146].
QUYỀN LỰC QUỐC TẾ
170. Một lần nữa tôi xin lặp lại rằng “cuộc khủng hoảng tài chính
năm 2007-2008 đã từng là cơ hội để phát triển một nền kinh tế
mới quan tâm hơn đến các nguyên tắc đạo đức, để điều tiết lại
hoạt động đầu tư tài chính và sự thịnh vượng giả tạo, nhưng đã
không có phản ứng nào dẫn đến việc suy nghĩ lại những tiêu
chuẩn lạc hậu đang tiếp tục vận hành thế giới”[147]. Thật vậy,
có vẻ như việc khai triển các chiến lược thực sự trên thế giớisau cuộc khủng hoảng đã khiến chủ nghĩa cá nhân thêm lớn
mạnh, sự hòa nhập lại kém đi, trong khi những người có thực
quyền thì càng tự tung tự tác, luôn tìm được lối thoát mà chẳng
thiệt hại gì.
171. Tôi cũng xin nhấn mạnh rằng “theo định nghĩa cổ điển,
công lý là trả cho mỗi người phần của họ, nghĩa là không một
cá nhân hay nhóm người nào được coi mình là tuyệt đối, có
quyền phớt lờ phẩm giá và quyền lợi của các cá nhân khác
hoặc các nhóm xã hội khác. Cách cụ thể để hạn chế quyền lực
đó là phải phân chia quyền lực cách hữu hiệu giữa phần lớn
các chủ thể (nhất là quyền lực chính trị, kinh tế, quốc phòng và
kỹ thuật) và phải tạo ra một hệ thống pháp lý để điều chỉnh các
yêu sách và quyền lợi. Tuy nhiên, thế giới ngày nay cho chúng
ta thấy có nhiều quyền lợi giả tạo và đồng thời có nhiều khu vực
rộng lớn dễ bị tổn thương, nạn nhân của việc thực thi quyền lực
cách tồi tệ”[148].
172. Thế kỷ XXI “chứng kiến quyền lực của chính quyền các
quốc gia đang dần suy yếu, hầu hết là vì các thành phần kinh tế
và tài chính xuyên quốc gia có xu hướng thống lãnh chính trị.
Trước tình hình này, thật chính đáng để phát triển các tổ chức
quốc tế mạnh mẽ và hiệu quả hơn, với những viên chức được
bổ nhiệm cách công minh thông qua thỏa thuận giữa các chính
phủ quốc gia và được trao quyền xử phạt”[149]. Khi nói tới việc
có thể có một số hình thức thẩm quyền thế giới được luật pháp
chi phối[150], chúng ta không nhất thiết phải nghĩ đến một thẩm
quyền cá nhân. Tuy nhiên, một thẩm quyền như vậy ít nhất
cũng phải thúc đẩy việc thành lập các cơ quan thế giới hữu hiệu
hơn, có năng lực đem lại lợi ích chung cho toàn cầu, xóa bỏ đói
nghèo và bảo vệ chắc chắn các quyền cơ bản của con người.
173. Về khía cạnh này, tôi cũng xin lưu ý sự cần thiết phải cải tổ
“Cơ quan Liên hiệp quốc, cũng như các cơ cấu kinh tế và nền
tài chính quốc tế, nhằm mang lại tính xác thực cụ thể cho ý
niệm về gia đình các dân tộc”[151]. Khỏi phải nói, điều này đòi
hỏi phải có những giới hạn pháp lý rõ ràng để tránh trường hợp
quyền thu nạp thành viên chỉ do một vài quốc gia quyết định, vàngăn chặn những áp đặt văn hóa hoặc hạn chế các quyền tự do
căn bản của các quốc gia yếu hơn trên cơ sở khác biệt ý thức
hệ. Vì “cộng đồng quốc tế là một cộng đồng pháp lý xây dựng
trên chủ quyền của mỗi quốc gia thành viên, không có những
ràng buộc lệ thuộc làm mất đi hay hạn chế sự độc lập của mỗi
quốc gia”[152]. Đồng thời, “theo các nguyên tắc được nêu trong
Lời mở đầu và các Điều khoản đầu tiên của Hiến chương thành
lập, ta có thể thấy việc làm của Liên hiệp quốc được coi như sự
phát triển và cổ võ việc thượng tôn pháp luật, dựa trên việc nhìn
nhận rằng công lý là điều kiện thiết yếu để đạt được lý tưởng
huynh đệ phổ quát... Cần phải bảo đảm tình trạng thượng tôn
pháp luật và sử dụng không mệt mỏi các biện pháp thương
lượng, hòa giải và trọng tài, như Hiến chương Liên hiệp quốc đã
đề xướng, vốn là những điều thực sự tạo nên quy phạm pháp lý
nền tảng”[153]. Cần phải ngăn chặn việc tước bỏ thẩm quyền
của Cơ quan này, vì các vấn đề và thiếu sót của nó đều có thể
được đưa ra để cùng nhau thương lượng và giải quyết.
174. Cần có lòng can đảm và quảng đại để tự ý đặt ra các mục
tiêu chung và bảo đảm cả thế giới sẽ tuân thủ một số quy tắc
thiết yếu. Để điều này thực sự hữu ích, cần phải “trung thành
với các thỏa ước đã ký kết (pacta sunt servanda)”[154], và tránh
“cơn cám dỗ muốn dùng đến luật của sức mạnh hơn là sức
mạnh của luật”.[155] Điều này có nghĩa là phải tái lập “các
phương thế mang tính quy phạm để giải quyết các tranh cãi
cách hòa bình cũng như để củng cố phạm vi và sức mạnh ràng
buộc của các phương thế ấy”[156]. Trong số các phương thế
mang tính quy phạm này, nên dành ưu tiên cho các thỏa ước
đa phương giữa các quốc gia hơn các thỏa ước song phương,
vì các thỏa ước đa phương bảo đảm công ích phổ quát thực sự
và bảo vệ các quốc gia yếu hơn.
175. Nhờ ơn Chúa quan phòng, nhiều tập hợp và tổ chức trong
xã hội dân sự giúp bù đắp các thiếu sót của cộng đồng quốc tế,
như thiếu phối hợp trong các tình huống phức tạp, thiếu quan
tâm đến các nhân quyền căn bản và các nhu cầu thiết yếu của
một số nhóm nào đó. Ở đây, chúng ta có thể thấy một áp dụngcụ thể của nguyên tắc phụ đới, nguyên tắc này biện minh cho
sự tham gia và hoạt động của các cộng đồng và tổ chức ở các
cấp thấp hơn như một phương tiện để tham gia và bổ sung cho
hoạt động của nhà nước. Các nhóm và tổ chức này thường
thực hiện những nỗ lực rất đáng ca ngợi trong việc phục vụ
công ích và một số thành viên có những hành động thực sự anh
hùng, điều này cho thấy nhân loại chúng ta còn có những khả
năng tốt đẹp biết bao.
BÁC ÁI XÃ HỘI VÀ CHÍNH TRỊ
176. Ngày nay đối với nhiều người, chính trị là một từ mang
nghĩa xấu, thường do các việc sai trái, tham nhũng và kém hiệu
quả của một số chính trị gia. Lại còn có những toan tính làm suy
yếu chính trị, thay thế chính trị bằng kinh tế học hay biến chính
trị thành một ý thức hệ nào đó. Tuy nhiên, liệu thế giới chúng ta
có thể vận hành mà chẳng cần đến chính trị hay không? Liệu có
thể có một tiến trình tăng trưởng hữu hiệu hướng tới tình huynh
đệ phổ quát và hòa bình xã hội mà không cần một nền chính trị
lành mạnh hay không?[157]
Nền chính trị chúng ta cần
177. Ở đây tôi xin nhấn mạnh một lần nữa rằng “chính trị không
được lệ thuộc vào kinh tế, cũng như kinh tế không được lệ
thuộc vào các mệnh lệnh và các mô thức kỹ trị chạy theo hiệu
quả”.[158] Mặc dù phải dứt khoát bác bỏ thói lạm dụng quyền
lực, tham nhũng, coi thường luật pháp và tính thiếu hiệu năng,
nhưng “không thể biện minh cho một nền kinh tế không chính trị,
vì như thế sẽ không thể đưa ra một đường lối khác có khả năng
xử lý các khía cạnh khác nhau của cuộc khủng hoảng hiện
tại”[159]. Thay vào đó, “cần một nền chính trị có tầm nhìn bao
quát, đưa ra được cách tiếp cận mới mẻ, toàn diện cùng với
cuộc đối thoại liên ngành về các khía cạnh khác nhau của cuộc
khủng hoảng”[160]. Nói cách khác, một “nền chính trị lành mạnh
có khả năng cải cách, điều phối và mang lại cho các thể chế
những cách thực hiện tốt nhất giúp vượt thắng các áp lực tiêu
cực và thói quan liêu trì trệ”[161]. Chúng ta không thể đòi buộckinh tế phải làm được điều này và cũng không chấp nhận để
kinh tế nắm quyền lực thực sự của quốc gia.
178. Trước nhiều kiểu chính trị kém cỏi chỉ nhắm lợi ích trước
mắt, tôi muốn lặp lại rằng “khả năng điều hành đất nước được
thể hiện ở chỗ: giữa thời kỳ gian khó, vẫn duy trì được những
nguyên tắc tổng quát và tư duy theo công ích dài hạn. Các thế
lực chính trị không dễ đảm nhận trách vụ này trong công cuộc
xây dựng đất nước”[162], càng không dễ dàng trong việc lập
một dự án chung cho gia đình nhân loại, vào lúc này và trong
tương lai. Cần phải nghĩ tới những người sẽ đến sau chúng ta,
nhưng không nhằm phục vụ các mục tiêu bầu cử, mà vì đây là
đòi hỏi của nền công lý chân chính. Như các Giám mục Bồ Đào
Nha đã huấn dụ, trái đất “là khoản vay mà mỗi thế hệ đều nhận
được và phải trao trả cho thế hệ sau”[163].
179. Trên bình diện toàn cầu, xã hội đang mắc phải những
khiếm khuyết trầm trọng về cơ cấu, không thể giải quyết bằng
cách chắp vá hoặc bằng các giải pháp vội vã may nhờ rủi chịu.
Có những điều cần phải thay đổi, bằng cách thiết lập lại nền
tảng và thực hiện những cải cách quan trọng. Chỉ có một nền
chính trị lành mạnh, bao gồm các lĩnh vực và các kỹ năng đa
dạng nhất, mới có khả năng giám sát tiến trình này. Nền kinh tế
nào nằm trong một chương trình chính trị, xã hội, văn hóa và
đại chúng nhắm đến việc xây dựng công ích sẽ có thể “mở ra
con đường cho những cơ hội khác, không ngăn chặn sự sáng
tạo và những ước mơ tiến bộ của con người, nhưng định
hướng nguồn sáng tạo và ước mơ ấy theo những nẻo đường
mới”[164].
Đức bác ái chính trị
180. Nhìn nhận mọi người là anh chị em và tìm kiếm một tình
bằng hữu xã hội bao gồm mọi người không hẳn là điều không
tưởng. Điều này đòi hỏi phải dứt khoát dấn thân để tìm ra các
phương thế hữu hiệu đạt mục đích này. Mọi nỗ lực theo hướng
này đều trở thành việc thực thi đức ái cao cả. Quả vậy, một cá
nhân có thể giúp đỡ một người đang gặp khó khăn, nhưng khicùng với những người khác xây dựng các chương trình xã hội
về tình huynh đệ và công bằng cho mọi người, là họ đã bước
vào “lĩnh vực bác ái ở bình diện rộng lớn nhất, đó là bác ái
chính trị”[165]. Điều này bao hàm việc việc kiến tạo một trật tự
xã hội và chính trị mà linh hồn của nó chính là đức bác ái xã
hội[166]. Một lần nữa, tôi kêu gọi hãy nhìn nhận lại giá trị của
chính trị như “một ơn gọi cao cả và như một trong những hình
thức cao quý nhất của bác ái, vì nó tìm kiếm lợi ích chung”[167].
181. Mọi dấn thân được học thuyết xã hội của Giáo hội gợi
hứng đều “phát xuất từ tình yêu, mà theo lời dạy của Chúa
Giêsu, tình yêu này là bản tóm kết toàn bộ Lề luật (x. Mt 22,36-
40)”[168]. Điều này có nghĩa là nhìn nhận rằng “lòng yêu
thương, thực hiện bằng những cử chỉ nhỏ bé của việc quan tâm
đến nhau, vừa mang tính chất dân sự lẫn chính trị, và biểu lộ
trong mọi hành động nhằm xây dựng một thế giới tốt đẹp
hơn”[169]. Vì thế, tình bác ái không chỉ thể hiện trong các mối
tương quan gần gũi và thân thiết mà cả trong “các mối tuong
quan vĩ mô mang tính xã hội, kinh tế và chính trị” nữa[170].
182. Đức bác ái chính trị này phát sinh từ ý thức xã hội vượt
trên mọi tư duy cá nhân chủ nghĩa: “Bác ái xã hội sẽ khiến
chúng ta yêu quý công ích, thúc đẩy chúng ta nỗ lực tìm kiếm
điều có ích cho hết mọi người, được xem không chỉ như những
cá thể riêng rẽ, mà còn trong chiều kích xã hội nối kết họ lại với
nhau”[171]. Mỗi chúng ta hoàn toàn là một con người khi chúng
ta thuộc về một dân tộc, đồng thời chẳng có dân tộc thực sự
nào lại không tôn trọng tính cách riêng của các cá nhân. “Dân
tộc” và “con người” là các thuật ngữ có tương quan với nhau.
Tuy nhiên, ngày nay có những mưu toan giản lược con người
thành những cá nhân đơn độc, dễ dàng để cho các thế lực theo
đuổi lợi ích bất minh thao túng. Nền chính trị tốt sẽ tìm cách xây
dựng các cộng đồng ở mọi bình diện của đời sống xã hội, nhằm
điều chỉnh và định hướng lại việc toàn cầu hóa và như thế sẽ
tránh gây ra những hậu quả hỗn loạn.
Đức bác ái hữu hiệu183. “Tình yêu thương mang tính xã hội”[172] giúp chúng ta có
khả năng tiến tới nền văn minh tình yêu, mà mọi người chúng ta
đều cảm nhận mình được kêu gọi đến. Lòng bác ái, nhờ sức
năng động phổ quát, có khả năng xây dựng một thế giới
mới[173]. Bác ái không phải là tình cảm đơn thuần, nhưng là
phương thế tốt nhất để khám phá những con đường phát triển
hữu hiệu cho mọi người. Tình yêu thương mang tính xã hội là
một “sức mạnh có khả năng khơi gợi những cách tiếp cận mới
mẻ các vấn đề của thế giới ngày nay, có khả năng đổi mới các
cơ chế, các tổ chức xã hội, các hệ thống luật pháp cách sâu xa,
từ bên trong”[174].
184. Bác ái là điều cốt lõi của mọi xã hội lành mạnh và cởi mở,
tuy nhiên ngày nay “nó dễ bị coi là không thích hợp trong việc
giải thích và định hướng các trách nhiệm đạo đức”[175]. Bác ái,
khi đi cùng với thái độ dấn thân cho chân lý, thì vượt xa cảm
xúc cá nhân, nhờ đó không dễ dàng “trở thành tế vật cho những
cảm xúc và ý kiến chủ quan tuỳ tiện”[176]. Thật vậy, mối liên hệ
chặt chẽ của bác ái với chân lý làm cho nó mang tính phổ quát
và tránh khỏi “bị giới hạn trong một lĩnh vực hẹp hòi, thiếu các
mối tương quan”[177]. Bằng ngược lại, “trong sự trao đổi giữa
nhận thức và thực hành, bác ái sẽ bị loại khỏi các dự án và tiến
trình thúc đẩy sự phát triển con người trong chiều kích phổ
quát”[178]. Không có chân lý, cảm xúc thiếu đi nội dung tương
quan và xã hội. Vì thế, việc mở ra với chân lý sẽ bảo vệ bác ái
khỏi “một thứ chủ thuyết duy tín vốn tước mất chiều kích nhân
văn và phổ quát của nó”[179].
185. Bác ái cần ánh sáng của chân lý, là điều chúng ta không
ngừng tìm kiếm. “Ánh sáng chân lý vừa là ánh sáng của lý trí
vừa là ánh sáng của đức tin”,[180] không chấp nhận bất cứ hình
thức nào của thuyết tương đối. Tuy nhiên, nó vẫn tôn trọng sự
phát triển của các ngành khoa học và những đóng góp thiết yếu
của khoa học trong việc tìm ra các phương tiện chắc chắn và
thực tiễn nhất để đạt được các kết quả mong muốn. Vì khi thiện
ích của những người khác bị đe dọa, chỉ có ý tốt thôi thì khôngđủ, nhưng phải thực hiện hiệu quả những gì họ và các quốc gia
của họ cần để phát triển.
THỰC THI ĐỨC BÁC ÁI CHÍNH TRỊ
186. Có thứ tình yêu gọi là “trực khởi” nghĩa là các hành vi phát
xuất trực tiếp từ đức bác ái và hướng đến các cá nhân và các
dân tộc. Ngoài ra còn có thứ tình yêu “gián khởi”, thể hiện nơi
các hành vi bác ái thúc đẩy việc lập ra những định chế lành
mạnh hơn, những quy định công bằng hơn, những cơ cấu
mang tính liên đới hơn.[181] Như thế, “đây cũng là một hành vi
yêu thương rất cần thiết nhằm tổ chức và cấu trúc xã hội thế
nào cho người thân cận của chúng ta không còn ở trong cảnh
nghèo khổ nữa”.[182] Giúp đỡ ai đó đang đau khổ là một hành
vi bác ái, và tìm cách thay đổi hoàn cảnh xã hội đã gây ra đau
khổ cho người ấy cũng là một hành vi bác ái, cả khi chúng ta
không tiếp xúc trực tiếp với họ. Nếu việc giúp người già qua
sông, là một hành vi bác ái cao đẹp thì việc một chính trị gia xây
cầu, cũng là một hành vi bác ái. Đang khi người khác giúp
người bằng cách cho họ ăn, thì chính trị gia tạo công ăn việc
làm cho họ, và đó là một hình thức thực hành bác ái cao vời,
làm vẻ vang cho hoạt động chính trị của vị ấy.
Những hy sinh phát xuất từ đức bác ái
187. Cốt lõi tinh thần hoạt động chính trị là lòng bác ái này, là
tình yêu thương dành ưu tiên cho những người thiếu thốn nhất.
Lòng bác ái này ẩn sau mọi điều chúng ta làm vì họ[183]. Chỉ có
cái nhìn được tình bác ái biến đổi mới có thể giúp chúng ta
nhận ra phẩm giá của người khác, và từ đó người nghèo được
nhìn nhận, phẩm giá, bản sắc và văn hóa của họ được tôn trọng
và do đó họ được thực sự hòa nhập vào xã hội. Cái nhìn ấy là
trung tâm của tinh thần hoạt động chính trị chân chính. Nó thấy
được những con đường mở rộng, khác với những con đường
của thứ chủ nghĩa thực dụng vô hồn. Nó giúp chúng ta nhận ra
rằng “không thể giải quyết điều ô nhục nghèo đói bằng cách cổ
võ các chiến lược kiểm soát chỉ nhằm trấn an người nghèo và
biến họ trở thành người cam chịu vô hại. Thật đáng buồn khithấy rằng đằng sau những việc được coi là vị tha, người khác
lại bị giản lược thành những con người thụ động”[184]. Điều cần
thiết là phải có những con đường mới để họ tự thể hiện và tham
gia vào xã hội. Giáo dục phục vụ những điều này bằng cách
giúp cho mỗi người có thể xây dựng tương lai của chính mình.
Ở đây chúng ta cũng thấy tầm quan trọng của nguyên tắc phụ
đới, một nguyên tắc không thể tách rời khỏi nguyên tắc liên đới.
188. Những xem xét trên giúp chúng ta nhận ra nhu cầu cấp
thiết phải chống lại tất cả những gì đe dọa hoặc vi phạm các
quyền căn bản của con người. Các chính trị gia được kêu gọi
“hướng đến nhu cầu của các cá nhân và các dân tộc. Giữa một
thế giới mang não trạng duy chức năng và tư nhân hóa vốn
chắc chắn dẫn tới ‘nền văn hóa vứt bỏ', để hướng đến những
người thiếu thốn, họ cần phải có sức mạnh và sự dịu dàng, có
sự cố gắng và lòng quảng đại. [...] Điều này có nghĩa là họ phải
đảm nhận trách nhiệm đối với những ai đang trong tình huống
bị gạt ra ngoài lề và trong cảnh hiểm nghèo nhất, đồng thời phải
có khả năng đem lại phẩm giá cho những người này”.[185] Tất
nhiên khi làm như thế họ đã tạo ra một tác động tích cực, sao
cho “tất cả phải được thực hiện để bảo vệ cương vị xã hội và
phẩm giá của con người”[186]. Các chính trị gia là những nhà
hoạt động, những nhà hoạch định hướng đến những mục tiêu
lớn lao, có tầm bao quát, thực tế và thực dụng, vượt khỏi biên
giới của đất nước họ. Các chính trị gia không nên lo lắng nhiều
về sự sụt giảm trong các cuộc thăm dò, mà phải lo lắng vì đã
không tìm ra phương cách giải quyết hữu hiệu “hiện tượng loại
trừ về mặt kinh tế và xã hội, đưa đến những hậu quả tai hại:
nạn buôn người, mua bán mô và cơ phận con người, nạn khai
thác tình dục trẻ em trai cũng như gái, lao động nô dịch, gồm cả
nạn mãi dâm, buôn bán ma túy và vũ khí, khủng bố và tội phạm
quốc tế có tổ chức. Tầm mức của tình trạng này và số lượng
các mảnh đời vô tội liên lụy gia tăng nghiêm trọng đến nỗi đòi
buộc chúng ta phải tránh mọi cơn cám dỗ đưa ra những tuyên
bố sáo rỗng nhằm xoa dịu lương tâm. Cần bảo đảm rằng các
định chế của chúng ta thực sự hữu hiệu trong cuộc đấu tranh
chống lại mọi hiểm họa này”[187]. Điều này cũng bao gồm cảviệc tận dụng một cách thông minh các nguồn tài nguyên to lớn
do sự phát triển công nghệ đem lại.
189. Các quyền căn bản nhất của con người còn lâu mới được
thực thi phổ biến ở mức toàn cầu. Đó là lý do tại sao nhiệm vụ
xóa bỏ nạn đói cách hiệu quả phải luôn được xét đến và phải
được xem là mục tiêu cấp bách hàng đầu trong các chính sách
toàn cầu. Thật vậy, “khi giới đầu cơ tài chính thao túng giá cả
lương thực, xem lương thực cũng chỉ như bất kỳ loại hàng hóa
nào, thì hàng triệu người phải đau khổ và chết đói. Đồng thời,
hàng tấn lương thực bị vứt bỏ. Điều này thực sự là đáng xấu hổ.
Để con người phải thiếu đói là một tội ác. Quyền được cung cấp
thực phẩm là quyền không thể bị tước bỏ”[188]. Nhiều lần, trong
khi say sưa tranh cãi về ngữ nghĩa hoặc ý thức hệ, chúng ta lại
bỏ mặc anh chị em mình chết đói chết khát, không nơi cư trú
hoặc không được chăm sóc sức khỏe. Ngoài những nhu cầu
căn bản chưa được đáp ứng này, nạn buôn người vẫn là một
nỗi nhục khác của nhân loại; các chính sách quốc tế không
được dừng lại với các diễn từ hoa mỹ và các ý hướng tốt lành,
nhưng phải vượt khỏi để không tiếp tục dung thứ cho tội ác này
nữa. Đây là những điều tối thiểu phải làm, không thể trì hoãn.
Một tình yêu dung hợp và liên kết
190. Bác ái chính trị còn được thể hiện qua tinh thần mở ra với
mọi người. Các nhà lãnh đạo chính quyền cần phải là những
người nhún nhường đi bước trước để có thể gặp gỡ và tìm
kiếm sự đồng thuận, ít ra là ở một số vấn đề. Họ phải sẵn sàng
lắng nghe các quan điểm khác và lo sao cho mọi người đều có
phần. Nhờ sự nhún nhường và lòng kiên nhẫn, họ có thể giúp
kiến tạo một thực tại đẹp đẽ muôn màu muôn vẻ, trong đó ai
cũng có phần. Ở đây, các cuộc đàm phán kinh tế không có tác
dụng. Cần một điều gì đó khác, nghĩa là cần trao đổi các tài lộc
để phục vụ công ích. Điều này có vẻ ngây thơ và không tưởng,
nhưng chúng ta không thể từ bỏ mục tiêu cao cả này.
191. Vào lúc mà các mối tương quan giữa các cá nhân, các
nhóm và các dân tộc bị tác hại bởi đủ hình thức bất khoan dungcực đoan, chúng ta hãy dấn thân sống và quảng bá giá trị của
việc tôn trọng người khác, của một tình yêu biết đón nhận
những khác biệt, và đặt phẩm giá con người vượt trên quan
điểm, tình cảm, thực hành và cả lầm lỗi của họ nữa. Trong xã
hội ngày nay, đang khi các hình thức cuồng tín, não trạng hẹp
hòi cùng sự phân hóa xã hội và văn hóa ngày càng gia tăng, thì
chính trị gia có trách nhiệm phải đi bước trước để các tiếng nói
khác nhau được lắng nghe. Chắc chắn các bất đồng sẽ gây ra
xung đột, nhưng sự đồng nhất cũng là nguyên nhân gây ngột
ngạt và suy đồi văn hoá. Mong sao chúng ta đừng cam chịu
đóng khung trong một mảnh thực tại.
192. Về mặt này, Đại giáo trưởng Ahmad Al-Tayyeb và tôi đã
kêu gọi “các nhà hoạch định chính sách quốc tế và kinh tế thế
giới, hãy tích cực truyền bá văn hóa khoan dung và chung sống
hòa bình; hãy can thiệp sớm nhất có thể để ngăn chặn việc đổ
máu người vô tội”[189]. Khi quốc gia nào đó nhân danh phúc lợi
của quốc gia mình mà có chính sách gieo rắc hận thù và đe dọa
các quốc gia khác, thì các vị nói trên cần phải quan tâm phản
ứng kịp thời và tức khắc sửa chữa tiến trình đó.
COI TRỌNG HOA TRÁI TÌNH YÊU HƠN SỰ THÀNH CÔNG
193. Cùng với những hoạt động miệt mài của mình, các chính
trị gia cũng là con người. Họ được mời gọi sống tình yêu trong
những mối tương giao liên vị hằng ngày. Với tư cách là con
người, họ cần ý thức rằng “thế giới hiện đại ngày càng có xu
hướng hợp lý hóa việc đáp ứng những nhu cầu của con người,
bằng cách phân chia thành nhiều loại dịch vụ đa dạng. Con
người ngày càng ít được gọi bằng chính tên riêng của mình,
con người duy nhất trên thế giới ấy ngày càng ít được đối xử
như một nhân vị, với những cảm xúc, những nỗi đau, những
vấn đề, những vui buồn và với một gia đình riêng. Người ta chỉ
cần biết đến bệnh tật của họ để chăm sóc, tình trạng tài chánh
eo hẹp của họ để chu cấp, nhu cầu nhà ở của họ để cho chỗ trú,
nhu cầu nghỉ ngơi giải trí của họ để đáp ứng”. Nhưng “yêu
thương một người nhỏ bé nhất trong muôn người, yêu thương
như một người anh em, yêu thương như là người duy nhất trênthế gian này; yêu thương như thế không hề là việc phí phạm
thời gian”[190].
194. Trong lĩnh vực chính trị, cũng có thể yêu thương với tâm
hồn dịu dàng. “Dịu dàng là gì? Là tình yêu trở nên gần gũi và cụ
thể. Đó là một chuyển động đi từ trái tim đến cặp mắt, đôi tai,
đôi tay... Dịu dàng là con đường mà những con người mạnh mẽ
và dũng cảm nhất phải đi”.[191] Trong hoạt động chính trị,
“những người bé mọn nhất, yếu đuối nhất, nghèo khổ nhất phải
gợi lên trong ta tâm tình dịu dàng. Họ là những người có quyền
chiếm hữu tâm hồn chúng ta, con tim chúng ta. Vâng, họ là anh
chị em của chúng ta và phải được đối xử như vậy”[192].
195. Việc này giúp ta nhận ra rằng điều quan trọng không phải
là luôn thành công mỹ mãn, thực vậy lắm lúc ta không thể thành
công. Trong sinh hoạt chính trị, phải nhớ rằng “dù dáng vẻ bên
ngoài thế nào, mỗi người đều vô cùng thánh thiện và đáng
được chúng ta yêu thương và tận tâm phục vụ. Vì thế, nếu tôi
chỉ giúp được duy nhất cho một người có cuộc sống tốt hơn, thì
riêng việc này đủ để giải thích cho lý do tôi có mặt ở đời. Được
thuộc về một dân tộc tin vào Thiên Chúa quả là tuyệt vời. Chúng
ta trở nên thành toàn khi phá đổ các bức tường để con tim
chúng ta ngập tràn những khuôn mặt và tên gọi!”[193] Những
mục tiêu to lớn mà chúng ta mong ước và lập kế hoạch chỉ đạt
được phần nào mà thôi. Nhưng vượt lên trên tất cả, những ai
yêu thương và không xem chính trị đơn thuần chỉ là việc tìm
kiếm quyền lực “thì chắc chắn không một hành động yêu
thương nào mà lại trở nên vô ích, không một mối quan tâm
chân thành nào đối với tha nhân mà lại tan biến, không một
hành vi yêu thương nào dành cho Thiên Chúa mà lại bị lãng
quên, không nỗi mệt mỏi quảng đại và kiên nhẫn đau thương
nào đã cho đi mà lại là vô nghĩa. Tất cả những nghĩa cử này
bao phủ thế giới, tựa như một trường lực của sự sống”[194].
196. Đàng khác, phải thật cao thượng mới có thể khởi sự
những tiến trình mà người khác sẽ thu lượm hoa trái, trong khi
luôn đặt hy vọng nơi sức mạnh tiềm ẩn của những hạt giống tốt
lành được vãi gieo. Nền chính trị tốt sẽ kết hợp tình yêu vớiniềm hy vọng và lòng tin tưởng, trong kho tàng thiện hảo của
tâm hồn con người, bất chấp mọi sự. Vì vậy “đời sống chính trị
đích thật, đặt nền tảng trên sự tôn trọng luật pháp và việc đối
thoại chân thành giữa con người với nhau, được đổi mới nhờ
xác tín rằng mỗi người, nam cũng như nữ và mỗi thế hệ đều
mang trong mình một triển vọng có khả năng phóng thích
những năng lượng mới mẻ trong tương giao, tri thức, văn hóa
và tinh thần”[195].
197. Với cái nhìn này, chính trị cao quý hơn vẻ bề ngoài của nó,
hơn sự quảng bá tiếp thị, hơn những hình thức được truyền
thông tô vẽ cho nó. Tất cả những thứ bên ngoài này chỉ gieo rắc
chia rẽ, thù nghịch và một nỗi hoài nghi u ám, không có khả
năng huy động dân chúng cùng theo đuổi mục đích chung. Khi
nghĩ đến tương lai, đôi khi chúng ta đặt câu hỏi: “Tại sao tôi làm
điều này? Tôi thực sự đang hướng đến mục tiêu nào?” Thật vậy,
vài năm sau, khi nghĩ về quá khứ, lẽ nào chúng ta lại không hỏi:
“Có bao nhiêu người đã đồng ý với tôi? Bao nhiêu người đã bỏ
phiếu cho tôi? Bao nhiêu người có được hình ảnh tích cực về
tôi?” Nhưng những câu hỏi đích thực, có thể gây đau đớn, phải
là: “Tôi đã dành bao nhiêu tình yêu cho công việc? Tôi đã làm gì
để giúp dân tôi tiến bộ? Tôi đã để lại dấu ấn nào trong đời sống
xã hội? Tôi đã xây dựng được tương giao đích thực nào? Tôi đã
cởi trói để phát huy được sức mạnh tích cực nào? Tôi đã gieo
hạt giống hòa bình nào cho xã hội? Tôi đã hoàn thành được gì
trong chức vụ được giao phó?”
CHƯƠNG SÁU:
ĐỐI THOẠI VÀ TÌNH BẰNG HỮU XÃ HỘI
198. Đến với nhau, bày tỏ, lắng nghe, nhìn nhau, làm quen,
hiểu biết, tìm ra những điểm chung, tất cả những điều đó gói
gọn trong động từ “đối thoại”. Muốn gặp nhau và giúp đỡ lẫn
nhau, chúng ta cần đối thoại. Không cần phải hỏi đối thoại để
làm gì. Chỉ cần hình dung thế giới này sẽ ra sao nếu không có
sự đối thoại kiên trì của biết bao người quảng đại đã giúp gìn
giữ gia đình và cộng đoàn hiệp nhất với nhau. Việc đối thoại
kiên trì và dũng cảm chẳng ồn ào đưa tin như những bất đồngvà xung đột, nhưng âm thầm giúp thế giới có cuộc sống tốt hơn
chúng ta nghĩ.
ĐỐI THOẠI XÃ HỘI ĐỂ XÂY DỰNG MỘT NỀN VĂN HÓA MỚI
199. Có người cố gắng trốn tránh thực tại bằng cách ẩn náu
trong thế giới riêng tư của mình, người khác lại đương đầu với
nó bằng bạo lực hủy diệt. Song “giữa thái độ thờ ơ ích kỷ và
phản kháng bạo động vẫn luôn có một lựa chọn: đó là đối thoại.
Đối thoại giữa các thế hệ, đối thoại giữa người dân với nhau,
bởi lẽ tất cả chúng ta đều là người dân, với khả năng cho đi và
nhận lãnh, đồng thời vẫn mở ra với chân lý. Quốc gia phát triển
khi các nền văn hóa đa dạng và phong phú biết đối thoại trong
tinh thần xây dựng: văn hóa đại chúng, văn hóa học thuật, văn
hóa giới trẻ, văn hóa nghệ thuật, văn hóa kỹ thuật, văn hóa kinh
tế, văn hóa gia đình và văn hóa truyền thông”[196].
200. Nói chung người ta hay lẫn lộn việc đối thoại với điều gì đó
rất khác: việc sôi nổi trao đổi ý kiến trên mạng xã hội, thường bị
định hướng bởi những phương tiện truyền thông đại chúng với
các thông tin không phải lúc nào cũng đáng tin cậy. Đây chỉ là
những cuộc độc thoại sóng đôi, có lẽ lôi kéo được sự chú ý bởi
giọng điệu gay gắt và hung hãn của chúng. Song độc thoại
chẳng giữ mãi được ai, nên nội dung của chúng thường mang
tính ăn xổi ở thì và chứa đầy mâu thuẫn.
201. Thực tế, việc loan truyền ầm ĩ các sự kiện và ý kiến trên
truyền thông thường cản trở khả năng đối thoại, bởi nó khiến
người ta cứ khăng khăng giữ nguyên quan điểm, lợi ích và lựa
chọn của mình, với lý do cho rằng mọi người khác đều sai.
Người ta quen thói dùng những lời lẽ phỉ báng để loại bỏ đối thủ
ngay từ đầu, thay vì đối thoại trong tinh thần cởi mở và tôn trọng,
để đạt được sự đồng thuận ở bình diện sâu sắc hơn. Tệ hơn cả
là loại ngôn ngữ thóa mạ này, thường được truyền thông sử
dụng trong các cuộc vận động chính trị, lại trở nên phổ biến đến
mức hằng ngày mọi người đều sử dụng nó. Cuộc tranh luận
thường bị thao túng bởi những nhóm lợi ích có nhiều quyền lực
hơn, hòng xảo trá lôi kéo công luận nghiêng chiều theo hướngcó lợi cho họ. Tôi không chỉ đề cập đến các chính phủ đang
cầm quyền, bởi thế lực thao túng này có thể là kinh tế, chính trị,
truyền thông, tôn giáo hoặc bất kỳ loại nào. Có khi người ta biện
minh hoặc bào chữa rằng động lực của việc này nhằm đáp ứng
những lợi ích kinh tế hay ý thức hệ, nhưng chẳng sớm thì muộn
nó sẽ trở mặt, chống lại chính những lợi ích đó.
202. Việc thiếu đối thoại hàm ý rằng mỗi bên, chẳng ai quan
tâm đến công ích mà chỉ muốn hưởng lợi do quyền lực đem lại,
hoặc đỡ hơn là để áp đặt một lối suy nghĩ riêng. Như thế, các
cuộc đối thoại chỉ là những cuộc thương lượng, ở đó ai nấy cố
gắng giành cho được tối đa quyền lực và chiếm hữu càng nhiều
lợi ích càng tốt, chẳng bận tâm hợp tác để mưu cầu công ích.
Những vị anh hùng tương lai sẽ là những người biết phá bỏ lối
suy nghĩ không lành mạnh này và quyết tâm bảo vệ và tôn trọng
một thứ ngôn ngữ chứa đựng sự thật, vượt khỏi mọi lợi ích cá
nhân. Xin Chúa cho những vị anh hùng ấy âm thầm lớn lên
trong xã hội chúng ta!
Cùng nhau xây dựng
203. Việc đối thoại xã hội đích thực giả thiết khả năng tôn trọng
quan điểm của người khác, chấp nhận rằng quan điểm ấy chứa
đựng những xác tín hoặc mối quan tâm chính đáng. Do căn tính
và kinh nghiệm riêng, người khác có điều gì đó đem đến cho
chúng ta. Ước mong sao họ sẽ đào sâu hoặc trình bày quan
điểm của mình để cuộc tranh luận công khai mang lại nhiều kết
quả hơn. Dĩ nhiên khi một cá nhân hoặc một nhóm người suy
nghĩ nhất quán, bảo vệ các giá trị, các xác tín cũng như triển
khai tư tưởng của họ, thì cách này hay cách khác đều có lợi cho
xã hội. Nhưng có lợi nhiều hay ít, điều này phụ thuộc vào tinh
thần đối thoại và cởi mở với người khác. Thật vậy, “trong tinh
thần đối thoại đích thực, khả năng nắm bắt ý nghĩa những gì
người khác nói và làm sẽ được gia tăng, dù có thể chúng ta
không chấp nhận như xác tín của chính mình. Như thế, chúng
ta có thể thẳng thắn, không che giấu những gì chúng ta tin,
không ngừng đối thoại, tìm kiếm những điểm chung và nhất là
cùng nhau hoạt động và tranh đấu”.[197] Việc tranh luận côngkhai, nếu thực sự dành chỗ cho mọi người, không thao túng
cũng như che giấu thông tin, sẽ là tác nhân thường xuyên kích
thích giúp nắm bắt sự thật hoàn hảo hơn, hay ít ra là diễn đạt
sự thật cách tốt hơn. Nó không cho các bên tự đắc, tự mãn chỉ
biết có quan điểm và mối quan tâm giới hạn của mình. Chúng ta
cần tin chắc rằng “khác biệt thì có sức sáng tạo, chúng tạo ra
căng thẳng và khi giải quyết căng thẳng, nhân loại tiến bộ!”[198]
204. Ngày nay, người ta càng xác tín rằng, bên cạnh những tiến
bộ khoa học mang tính chuyên ngành, cần phải có sự trao đổi
liên ngành, bởi lẽ thực tại chỉ là một, cả khi được tiếp cận dưới
nhiều khía cạnh khác nhau và bằng những phương pháp khác
nhau. Có một nguy cơ chớ nên coi thường đó là xem một tiến
bộ khoa học nào đó là cách tiếp cận duy nhất khả dĩ nắm bắt
mọi khía cạnh của đời sống, của xã hội và của thế giới. Thay
vào đó, các nhà nghiên cứu tuy là chuyên gia trong lĩnh vực của
mình lại vẫn sẵn sàng thừa nhận những chiều kích khác của
thực tại mà họ nghiên cứu, sẽ hiểu biết thực tại cách trọn vẹn
và đầy đủ hơn nhờ vào các công trình khoa học và tri thức khác.
205. Trong thế giới toàn cầu hóa này “nhờ các phương tiện
truyền thông, chúng ta cảm thấy gần nhau hơn, nhận ra ý nghĩa
mới mẻ của tình hiệp nhất gia đình nhân loại vốn là động lực
thúc đẩy tình liên đới và sự dấn thân nghiêm túc để mọi người
có được cuộc sống xứng đáng hơn. Các phương tiện truyền
thông có thể giúp chúng ta thực hiện điều này, nhất là ngày nay,
khi các mạng lưới truyền thông của con người đã đạt được
những tiến bộ vượt bậc. Đặc biệt, internet cho chúng ta nhiều
cơ hội gặp gỡ và liên đới với nhau hơn. Đây là điều thực sự tốt
lành, là quà tặng của Thiên Chúa[199]. Nhưng cần làm thế nào
để luôn bảo đảm rằng các phương thức truyền thông hiện nay
hướng chúng ta đến cuộc gặp gỡ quảng đại, chân thành tìm
kiếm sự thật toàn vẹn, phục vụ người nghèo, gần gũi với họ và
dấn thân xây dựng công ích. Đồng thời, như các Giám mục Úc
đã chỉ ra, “chúng ta không thể chấp nhận một thế giới kỹ thuật
số được hoạch định để khai thác các nhược điểm của chúng ta
và phơi bày những điều tồi tệ nhất nơi con người”[200].NỀN TẢNG CỦA VIỆC ĐỒNG THUẬN
206. Chủ thuyết tương đối không phải là một giải pháp. Dưới
lớp vỏ khoan dung, thuyết này cuối cùng sẽ để cho những
người nắm giữ quyền thế giải thích các giá trị luân lý theo lề thói
của thời đại. Rốt cuộc, “nếu không có các chân lý khách quan
hoặc các nguyên tắc vững chắc tách khỏi việc thỏa mãn những
mong muốn cá nhân và nhu cầu tức thời [...], thì chúng ta đừng
nên nghĩ rằng những kế sách chính trị hoặc sức mạnh của luật
pháp là đủ [...] Khi văn hóa suy đồi và khi sự thật khách quan
cùng những nguyên tắc có giá trị phổ quát không còn được tôn
trọng nữa, thì luật pháp chỉ có thể được xem như những áp đặt
độc đoán hay những chướng ngại phải tránh mà thôi”[201].
207. Có thể nào quan tâm đến chân lý, tìm kiếm chân lý có khả
năng mang lại ý nghĩa cho thực tại sâu xa nhất của chúng ta
hay không? Luật là gì nếu không có niềm xác tín - chắt lọc từ
những suy tư và sự khôn ngoan từ bao đời - rằng mỗi con
người đều mang tính thánh thiêng và bất khả xâm phạm? Để xã
hội có tương lai, cần phải vun trồng ý thức tôn trọng sự thật về
phẩm giá con người và quy thuận sự thật này. Vì thế, người ta
sẽ không giết người, không phải chỉ vì để khỏi bị xã hội lên án
hay bị luật pháp trừng trị, nhưng bởi có niềm xác tín. Đó là chân
lý tất yếu được lý trí nhận biết và lương tri chấp nhận. Một xã
hội sở dĩ được xem là đáng quý đáng trọng, cách riêng là vì xã
hội ấy có ý thức tìm kiếm chân lý và trung thành với những chân
lý nền tảng nhất.
208. Chúng ta phải biết vạch trần những kiểu thao túng, bóp
méo và che giấu sự thật, trong lĩnh vực công cũng như tư. Điều
chúng ta gọi là “sự thật” không chỉ là việc tường thuật các sự
kiện và biến cố, như chúng ta thấy trên báo chí hằng ngày.
Trước hết đó là tìm kiếm những nền tảng vững chắc nhất cho
những chọn lựa và luật pháp của chúng ta. Điều này giả thiết
phải thừa nhận rằng trí năng con người có thể vượt khỏi các lề
thói của thời đại để nắm bắt một số chân lý không thay đổi, vốn
đã đúng và sẽ luôn mãi đúng như vậy. Khi tìm hiểu bản tính conngười, lý trí khám phá những giá trị phổ quát bắt nguồn từ cùng
một bản tính ấy.
209. Nếu không, thì những quyền cơ bản của con người, ngày
nay vốn được coi là không thể tước bỏ, sẽ bị những kẻ quyền
thế phủ nhận với sự “đồng thuận” của một quần chúng mơ ngủ
và sợ sệt lại chẳng là chuyện không thể xảy ra hay sao? Thế
nên vẫn sẽ là chưa đủ, nếu chỉ có sự đồng thuận giữa nhiều
dân tộc vì sự đồng thuận đó có thể bị thao túng. Có nhiều bằng
chứng cho thấy chúng ta có thể thực hiện mọi điều tốt đẹp,
nhưng đồng thời phải thừa nhận khả năng hủy hoại trong con
người chúng ta. Chủ nghĩa cá nhân dửng dưng và nhẫn tâm mà
chúng ta rơi vào, há chẳng phải là một hậu quả khác của thói
biếng nhác trong việc tìm kiếm những giá trị cao quý vượt trên
những nhu cầu tức thời hay sao? Thêm vào với chủ nghĩa
tương đối là nguy cơ những kẻ cầm quyền hay những kẻ xảo
trá nhất áp đặt những điều mà họ gọi là chân lý. Cần nhớ rằng,
“liên quan đến các chuẩn mực luân lý cấm chỉ điều xấu tự bản
chất, thì không ai được đặc quyền hay miễn chước. Cho dù là
chủ nhân thế giới hay kẻ khốn cùng nhất trên mặt đất, vẫn
không hề có sự khác biệt: trước những đòi buộc luân lý, tất cả
chúng ta đều tuyệt đối bình đẳng”[202].
210. Điều đang diễn ra và cuốn chúng ta vào một lối suy nghĩ
xấu xa và rỗng tuếch, đó là việc đồng hóa đạo đức và chính trị
với những sự kiện vật chất. Chẳng có điều gì là tốt xấu tự bản
chất, mà chỉ có những tính toán thiệt hơn, lợi hại. Việc chuyển
đổi lý lẽ tốt xấu của luân lý gây ra hậu quả là luật pháp không
thể phản ánh ý niệm nền tảng về công lý mà trở thành hình ảnh
phản chiếu của các tư tưởng đang thịnh hành. Thế là xã hội cứ
suy thoái dần: tiến bộ “bằng cách san bằng cho thấp xuống” bởi
một sự đồng thuận hời hợt mang tính đổi chác. Và cuối cùng lý
lẽ của kẻ mạnh sẽ thắng.
Sự đồng thuận và sự thật
211. Trong một xã hội đa nguyên, không phải sự đồng thuận
nhất thời, mà chính đối thoại mới là con đường thích hợp nhấtdẫn đến việc nhận ra những gì phải luôn được khẳng định và
tôn trọng. Cuộc đối thoại như thế cần được làm cho phong phú
và soi sáng bằng các chứng cứ, các lý lẽ, các viễn cảnh khác
nhau, cũng như bằng các đóng góp từ những hiểu biết và quan
điểm khác nhau. Cuộc đối thoại này không loại trừ niềm xác tín
rằng có thể đạt tới một số chân lý cơ bản phải luôn được bảo vệ.
Việc thừa nhận có những giá trị thường hằng như thế, mặc dù
không phải lúc nào cũng dễ nhận ra, mang lại sự bền vững và
ổn định cho đạo đức xã hội. Ngay cả khi những giá trị ấy đã
được nhận biết và thừa nhận nhờ sự đối thoại và đồng thuận,
thì chúng ta cũng thấy rằng những giá trị nền tảng này luôn
vượt trên mọi đồng thuận, trên mọi hoàn cảnh cụ thể và là điều
không thể bàn cãi. Chúng ta có thể ngày càng hiểu biết hơn về
ý nghĩa và tầm quan trọng của các giá trị này - và theo chiều
hướng đó, đồng thuận là một thực tại năng động - nhưng tự
thân, các giá trị này được coi là bền vững vì ý nghĩa nội tại của
chúng.
212. Nếu luôn có điều gì đó giúp cho xã hội được vận hành
cách tốt đẹp, há chẳng phải vì ẩn đằng sau là một chân lý
thường hằng mà trí năng có thể nắm bắt được hay sao? Trong
chính thực tại của con người và của xã hội, trong bản chất sâu
xa của chúng có một loạt cơ cấu nền tảng nâng đỡ sự phát triển
và tồn tại của cả hai. Từ đó phát sinh ra một số yêu cầu, vốn có
thể nhận biết nhờ đối thoại, cho dù những yêu cầu ấy, nói cho
ngay, không là kết quả của sự đồng thuận. Sự kiện một số quy
tắc là thiết yếu cho chính đời sống xã hội là dấu chỉ cho thấy
chúng là điều tốt tự thân. Vì thế, không cần phải đặt tiện ích xã
hội, sự đồng thuận và chân lý khách quan đối nghịch với nhau.
Ba thực tại này có thể kết hợp hài hòa khi người ta, bằng cách
đối thoại, dám đi đến tận cùng vấn đề.
213. Trong mọi hoàn cảnh, phải tôn trọng phẩm giá của người
khác, tôn trọng không phải vì chúng ta đã thiết định hay tưởng
tượng ra phẩm giá ấy, nhưng bởi vì họ thực sự có giá trị, giá trị
này vượt trên vật chất và các hoàn cảnh. Điều này đòi buộc
chúng ta phải đối xử với họ khác với các sự vật. Mỗi người đềucó một phẩm giá không thể tước bỏ. Đây là chân lý tương hợp
với bản tính con người bất chấp mọi thay đổi về văn hoá. Chính
vì thế, mọi người đều có cùng một phẩm giá bất khả xâm phạm
như nhau, bất kể thời đại lịch sử và cũng vì thế không ai, do
hoàn cảnh đặc biệt nào đó, có thể cho rằng mình có quyền phủ
nhận niềm xác tín ấy hoặc không hành xử phù hợp với niềm xác
tín ấy. Do đó, trí năng có thể săm soi thực tại các sự vật thông
qua suy tư, kinh nghiệm và đối thoại, để nhận ra nơi thực tại ấy
và vượt khỏi thực tại ấy, nền tảng của những mệnh lệnh luân lý
phổ quát nhất định.
214. Nền tảng này xem ra là đủ để những người theo thuyết bất
khả tri gán cho những nguyên tắc đạo đức căn bản và bất khả
thương lượng một giá trị phổ quát chắc chắn và bền vững có
khả năng ngăn ngừa những thảm họa mới. Đối với các tín hữu,
bản tính nhân loại này, là nguồn phát sinh các nguyên tắc đạo
đức, đã được Thiên Chúa tạo dựng và cuối cùng cũng chính
Thiên Chúa đã phú cho các nguyên tắc ấy một nền tảng vững
chắc[203]. Điều này không đưa đến một nền đạo đức cứng
nhắc, cũng không hàm ý áp đặt bất kỳ một hệ thống luân lý nào,
bởi lẽ từ các nguyên tắc luân lý cơ bản và các giá trị phổ quát
này có thể nảy sinh những quy tắc thực hành khác nhau. Song,
vẫn luôn có chỗ cho đối thoại.
MỘT NỀN VĂN HÓA MỚI
215. “Cuộc sống là nghệ thuật gặp gỡ giữa biết bao bất
đồng”[204]. Đã nhiều lần tôi mời gọi phát triển một nền văn hóa
gặp gỡ vượt lên những biện chứng đối kháng nhau. Đó là một
lối sống nhằm tạo nên một khối đa diện với nhiều góc cạnh,
nhưng vẫn là một thể thống nhất mang nhiều sắc thái, bởi vì
“toàn thể lớn hơn thành phần”[205]. Khối đa diện này là hình
ảnh của một xã hội có nhiều khác biệt, bổ sung, làm phong phú
và soi sáng lẫn nhau cho dù vẫn có những bất đồng và ngờ vực.
Thật vậy, người ta có thể học hỏi lẫn nhau, không ai là vô dụng,
không ai là thừa thãi. Điều này hàm ý rằng cả những người
sống ở vùng ngoại vi cũng được hội nhập vào. Những người
này có lối nhìn khác. Họ thấy các khía cạnh của thực tại mà cáctrung tâm quyền lực, nơi đưa ra các quyết định quan trọng nhất,
lại không nhận ra.
Gặp gỡ trở thành văn hóa
216. Từ “văn hóa” diễn tả điều gì đó đã bám rễ sâu vào một dân
tộc, trong những xác tín sâu xa nhất và trong nếp sống của dân
tộc ấy. Nếu chúng ta nói về một nền “văn hóa” trong một dân
tộc thì đó không chỉ là một ý tưởng hay một điều trừu tượng.
Văn hóa bao gồm tâm tư, ước nguyện và sau hết là cung cách
sống của nhóm dân đó. Vì thế, nói về “văn hóa gặp gỡ” nghĩa là
muốn nói rằng, là một dân tộc, chúng ta phải ham mê gặp gỡ
nhau, tìm những điểm chung, xây dựng những cầu nối, thiết lập
những kế hoạch dành cho hết mọi người. Điều này trở nên khát
vọng và lối sống, Chủ thể của nền văn hóa này là dân chúng
chứ không phải một bộ phận của xã hội ra sức giữ bình ổn phần
còn lại bằng các phương tiện chuyên môn và truyền thông.
217. Xây dựng hòa bình xã hội là việc khó, đòi hỏi phải có sự
khéo léo. Trong khi việc kiềm chế tự do và hạn chế những khác
biệt có lẽ sẽ dễ dàng hơn với một chút mánh lới và phương tiện.
Nhưng thứ hòa bình ấy hẳn là mong manh, hời hợt vì không
phải là kết quả của một nền văn hóa gặp gỡ vốn hậu thuẫn cho
hòa bình. Hòa nhập những khác biệt là một tiến trình khó khăn
và chậm chạp hơn nhiều, nhưng chỉ có tiến trình này mới bảo
đảm một nền hòa bình đích thực và bền vững. Sẽ không có
được thứ hòa bình ấy nếu chỉ huy động được những phần tử
trung kiên, bởi lẽ “ngay cả những người mắc sai lầm đáng chỉ
trích vẫn có thể cống hiến điều gì đó mà ta chớ nên xem thường
bỏ qua”[206]. Đó không phải là một thứ hòa bình xuất phát từ
việc bóp nghẹt những yêu sách xã hội hay cấm đoán mọi chống
đối, cũng không phải là “một sự đồng thuận trên giấy tờ hay một
thứ hòa bình tạm bợ dành cho một thiểu số hài lòng sung
sướng”[207]. Điều quan trọng là thiết lập những tiến trình gặp
gỡ, những tiến trình làm nên một dân tộc có khả năng chấp
nhận những khác biệt. Chúng ta hãy trang bị cho con em mình
vũ khí của đối thoại. Hãy dạy cho chúng biết chiến đấu cho cuộc
chiến cao đẹp của nền văn hóa gặp gỡ!Niềm vui khi nhìn nhận người khác
218. Điều này bao hàm việc nhìn nhận người khác có quyền là
chính họ và quyền được khác biệt. Khi việc nhìn nhận này trở
thành văn hóa, thì mới có thể thiết lập được một thỏa ước xã
hội. Ngược lại, không có sự nhìn nhận này, sẽ xuất hiện nhiều
cách thức tinh vi nhằm làm cho người khác không còn ý nghĩa,
không đáng kể và không có giá trị gì trong xã hội. Việc loại trừ
một số hình thức bạo lực thể lý bên ngoài, lắm khi lại là che đậy
một thứ bạo lực khác xảo trá hơn: đó là khinh miệt những ai
khác với mình, nhất là khi những đòi hỏi của họ cách nào đó
gây tổn hại cho những lợi ích của mình.
219. Khi một thành phần xã hội cho rằng phải tận dụng tất cả
những gì thế giới cống hiến, và làm như thể người nghèo không
hề hiện hữu, điều này đến lúc nào đó sẽ gây ra hậu quả. Sớm
muộn gì thì việc phớt lờ sự hiện diện và quyền lợi của người
khác cũng sẽ gây ra một hình thức bạo lực nào đó, nhiều khi
không lường trước được. Ước mơ về tự do, bình đẳng và
huynh đệ mãi mãi vẫn chỉ là hình thức nếu chúng không được
áp dụng cho hết mọi người. Vấn đề không chỉ là tìm kiếm cuộc
gặp gỡ giữa những người nắm giữ quyền lực kinh tế, chính trị
hay học thuật. Cuộc gặp gỡ xã hội thực sự trong đối thoại sẽ là
cuộc gặp gỡ đúng nghĩa giữa các nền văn hóa lớn của đại đa
số dân cư. Lắm lúc những thiện chí được nêu lên không được
các thành phần nghèo nhất tán thành, bởi vì những thiện chí ấy
được trình bày dưới trang phục văn hóa không phải là trang
phục của họ, thế nên họ không thể nhận ra. Do đó, một thỏa
ước xã hội mang tính hiện thực và được đại đa số chấp nhận
cũng phải là một “thỏa ước văn hóa”, nghĩa là một thỏa ước biết
tôn trọng và nhìn nhận các thế giới quan, các nền văn hóa và
các lối sống khác nhau cùng tồn tại trong xã hội.
220. Chẳng hạn, các dân tộc bản địa không chống lại sự tiến bộ,
nhưng họ có cách hiểu khác về tiến bộ, và thường mang tính
nhân văn hơn so với cách hiểu của nền văn hóa hiện đại thuộc
thế giới phát triển. Đó không phải là nền văn hóa nhắm đến lợi
ích của những kẻ có quyền, những kẻ mong muốn thiết lập mộtloại thiên đường vĩnh cửu trên trần gian. Thái độ bất bao dung
và khinh miệt đối với nền văn hóa dân tộc bản địa thực sự là
một hình thức bạo lực, cách riêng là của tầng lớp tinh hoa thiếu
từ tâm, chuyên phán xét người khác. Song, không thể có được
sự thay đổi đích thực sâu xa và lâu dài nào nếu không khởi đi
từ những nền văn hóa khác nhau, đặc biệt là các nền văn hóa
của người nghèo. Để có được một thỏa ước văn hóa cần giả
định rằng phải loại bỏ cách hiểu cục bộ về tính đồng nhất địa
phương, đồng thời phải tôn trọng sự đa dạng nhờ đó mở ra cho
cư dân địa phương những cơ hội thăng tiến và hòa nhập vào
cuộc sống toàn xã hội.
221. Thỏa ước này cũng đòi hỏi phải chấp nhận việc nhượng bộ
điều gì đó vì công ích. Không ai có thể nắm giữ toàn bộ chân lý
hay có thể thỏa mãn mọi ước muốn của mình, bởi lẽ, khả năng
này, nếu có, sẽ dẫn đến việc phủ nhận quyền lợi của tha nhân
và bằng cách đó sẽ hủy diệt họ. Những ai tin rằng họ phải trung
thành với các nguyên tắc của mình đồng thời vẫn thừa nhận
rằng người khác cũng có quyền trung thành với các nguyên tắc
của người đó thì họ sẽ tránh được quan niệm sai lầm về lòng
bao dung, thay vào đó qua việc đối thoại họ sẽ thấy được thực
tại. Việc nhìn nhận tha nhân như thế mới là thật và chỉ có tình
yêu mới có thể làm được, và điều đó có nghĩa là đặt mình vào
vào vị trí của người khác để khám phá ra, giữa những động lực
và các mối quan tâm của họ, đâu là điều xác thực, hay ít ra là
để có thể hiểu được họ!
TRỞ LẠI LÀM NGƯỜI TỬ TẾ
222. Chủ nghĩa cá nhân tiêu dùng gây ra những sai trái trầm
trọng. Chúng ta coi người khác như những kẻ cản trở không để
chúng ta thảnh thơi hưởng thụ, để rồi, đối xử với họ như những
người quấy rối. Cuối cùng chúng ta ngày càng hung hãn. Điều
này được thấy rõ và thấy rất rõ khi xảy ra khủng hoảng, tai
ương hoặc khi lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Chính lúc đó, thói
xấu “thân ai nấy lo” bộc lộ hoàn toàn. Tuy nhiên ngay cả khi đó,
chúng ta vẫn có thể chọn làm người tử tế. Những người tử tế
trở nên những vì sao chiếu sáng trên bầu trời đêm.223. Thánh Phaolô dùng từ hy lạp chrestótes (Gal 5,22) để nói
về sự tử tế, như một trong những hoa quả của Chúa Thánh
Thần. Chrestótes diễn tả một tâm hồn không chua chát, thô lỗ,
cứng cỏi, nhưng nhân hậu, dịu dàng, biết nâng đỡ và an ủi.
Những cá nhân có đức tính này thường giúp người khác có
được cuộc sống dễ chịu hơn, nhất là giúp những ai chịu áp lực
nặng nề bởi những khó khăn, những nhu cầu khẩn cấp, những
nỗi lắng lo ưu phiền. Lối ứng xử này được biểu lộ bằng nhiều
cách: thái độ ân cần hòa nhã, chú ý để lời nói hoặc việc làm
không gây tổn thương cho ai, cố gắng làm người khác vơi bớt
gánh nặng. Điều này đòi hỏi phải nói “những lời tích cực để vỗ
về, trợ lực, an ủi và khích lệ” chứ không nói “những lời miệt thị,
bi quan, khích bác hoặc chê bai”[208].
224. Sự tử tế giải thoát chúng ta khỏi thói độc ác đôi khi len lỏi
vào mối tương quan của con người, khỏi mối bận tâm lo lắng
vốn ngăn cản chúng ta nghĩ đến người khác, khỏi những hối hả
vô tâm đến độ quên rằng người khác cũng có quyền được
hưởng hạnh phúc. Ngày nay, chúng ta không quen, cũng chẳng
có đủ thời gian và khả năng dừng lại để sống tử tế với người
khác, để nói “xin vui lòng”, “xin lỗi”, “cảm ơn”. Nhưng thỉnh
thoảng phép mầu vẫn xảy ra khi có người tử tế xuất hiện, sẵn
sàng bỏ qua những bận tâm và việc cần làm ngay của mình để
lưu tâm đến người khác, để trao tặng một nụ cười, để nói một
lời động viên, để lắng nghe giữa một nơi chốn đầy vẻ dửng
dưng. Nếu cố gắng sống tử tế như thế mỗi ngày, chúng ta có
thể tạo được một bầu khí chung lành mạnh trong xã hội, nhờ đó
vượt thắng các hiểu lầm và tránh khỏi các xung đột. Sống tử tế
không phải là một việc vặt vãnh chẳng đáng gì, cũng không phải
là một thái độ màu mè trưởng giả. Bởi vì nó đòi hỏi phải quý
mến và tôn trọng người khác, nên khi trở thành văn hóa xã hội,
nó sẽ làm thay đổi sâu sắc cách sống, các mối tương quan xã
hội, thay đổi cách thức thảo luận và cách đối chiếu các tư tưởng.
Nó tạo thuận lợi cho việc tìm kiếm sự đồng thuận và mở ra
những nẻo đường mới ở những nơi mà sự thù địch phẫn nộ đã
phá hủy mọi chiếc cầu.
CHƯƠNG BẢY:
NHỮNG LỘ TRÌNH GẶP GỠ
225. Nhiều nơi trên thế giới cần có những lộ trình hòa bình để
hàn gắn các vết thương. Cũng cần có những người kiến tạo
hòa bình đầy khôn ngoan và táo bạo, sẵn sàng thực hiện các
tiến trình chữa lành và tìm gặp lại nhau.
BẮT ĐẦU LẠI TỪ SỰ THẬT
226. Gặp lại nhau không có nghĩa là trở lại thời điểm trước khi
có xung đột. Tất cả chúng ta đã thay đổi theo thời gian. Đau
thương và những bất đồng cũng làm chúng ta thay đổi. Hơn
nữa, cũng chẳng còn chỗ cho kiểu ngoại giao trống rỗng, cho
những giả dối, những lời nói nước đôi, những che giấu, những
lối cư xử tốt đẹp để che đậy thực tế. Những người đã từng đối
đầu gay gắt với nhau phải đối thoại khởi đi từ sự thật rõ ràng và
minh bạch. Họ cần phải học biết vun trồng ký ức sám hối, có
khả năng chấp nhận quá khứ để không che phủ tương lai bằng
những bất mãn, những nhầm lẫn và những dự phóng của họ.
Chỉ có sự thật lịch sử về các biến cố mới có thể là cơ sở cho nỗ
lực bền bỉ nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau và một quan
điểm mới vì thiện ích của tất cả mọi người. Thật vậy, “tiến trình
hòa bình đòi hỏi phải dấn thân lâu dài. Đó là một nỗ lực kiên
nhẫn nhằm tìm kiếm sự thật và công lý, tôn vinh ký ức của các
nạn nhân và từng bước mở ra niềm hy vọng chung, mạnh hơn
mong muốn báo thù[209]. Như các Giám mục Congo đã xác
nhận về cuộc xung đột vẫn liên lỉ tái diễn: “Các thỏa ước hòa
bình trên giấy tờ sẽ chẳng bao giờ là đủ. Cần phải đi xa hơn,
bằng việc minh bạch sự thật về nguyên nhân gốc của cuộc
khủng hoảng hiện thời. Người dân có quyền biết điều gì đã xảy
ra”[210]
227. Quả vậy, “sự thật là người bạn đồng hành luôn gắn bó với
công lý và lòng thương xót. Cả ba đều là yếu tố thiết yếu để xây
dựng hòa bình. Mặt khác, mỗi yếu tố đều ngăn không cho các
yếu tố kia biến dạng. [...] Không được để sự thật dẫn đến báo
thù, nhưng phải dẫn đến hòa giải và tha thứ. Sự thật là nói chocác gia đình đang tan nát đau thương về những gì đã xảy ra
cho những người thân yêu đã mất của họ. Sự thật là thú nhận
những gì đã xảy ra với những người trẻ bị những kẻ bạo tàn
chiêu mộ. Sự thật là nhận ra nỗi đau của các phụ nữ là nạn
nhân của bạo lực và lạm dụng. [...] Mỗi hành vi bạo lực chống
lại con người đều là một vết thương trên da thịt nhân loại, mỗi
cái chết thương tâm đều làm giảm giá trị nhân vị của chúng ta.
[...] Bạo lực sinh ra bạo lực, hận thù gây thêm hận thù, chết
chóc càng thêm chết chóc. Chúng ta phải phá vỡ vòng luẩn
quẩn dường như không thể tránh khỏi này”[211].
XÂY DỰNG HOÀ BÌNH THEO KHOA KIẾN TRÚC VÀ KIỂU
THỦ CÔNG
228. Con đường dẫn đến hòa bình không đòi phải làm cho xã
hội trở nên đồng nhất, nhưng trái lại, cho phép chúng ta cùng
nhau làm việc. Nó có thể kết nối nhiều người lại để cùng nhau
tìm kiếm lợi ích chung cho tất cả. Trước một mục tiêu chung đã
định, chúng ta có thể đưa ra nhiều giải pháp kỹ thuật khác nhau,
nhiều kinh nghiệm khác nhau và cùng phục vụ cho công ích.
Cần xác định rõ các vấn đề xã hội đang gặp phải để chấp nhận
rằng có những cách nhìn khác nhau về những khó khăn và
cách giải quyết các vấn đề ấy. Con đường dẫn đến việc cùng
chung sống trong xã hội luôn bao hàm việc nhận ra rằng người
khác có thể có một quan điểm chính đáng, có điều gì đó đáng
giá, ít ra là phần nào đó, cho dù họ có sai lầm hay làm điều xấu.
Thật vậy, “chúng ta không bao giờ được giới hạn người khác
vào những gì họ đã nói hay đã làm, nhưng phải đánh giá họ
theo triển vọng mà họ đang có”[212], triển vọng luôn để lại một
tia hy vọng.
229. Các Giám mục Nam Phi đã cho thấy người ta có thể đạt
được hòa giải thật sự một cách chủ động, “bằng cách kiến tạo
một xã hội mới dựa trên việc phục vụ người khác hơn là mong
muốn thống trị; một xã hội dựa trên việc chia sẻ với người khác
những gì mình có hơn là mỗi người cứ ích kỷ tranh giành càng
nhiều của cải càng tốt; một xã hội mà trong đó giá trị của việc
liên kết với nhau với tư cách là những con người thì dứt khoátưu tiên hơn các nhóm nhỏ, dù đó là gia đình, quốc gia, chủng
tộc hay văn hóa”.[213] Các Giám mục Hàn Quốc cũng nhấn
mạnh rằng nền hòa bình thật sự “chỉ có thể đạt được khi chúng
ta đấu tranh cho công lý qua việc đối thoại, tìm kiếm sự hòa giải,
và giúp nhau phát triển”[214].
230. Cần phải nỗ lực để vượt qua những gì chia rẽ chúng ta mà
không đánh mất bản sắc riêng của mỗi cá nhân, nỗ lực này giả
định mỗi người phải có một cảm thức căn bản của sự thuộc về.
Quả thật, “xã hội chúng ta sẽ được lợi khi mỗi người, mỗi nhóm
xã hội cảm thấy như đang ở nhà của mình. Trong một gia đình,
cha mẹ, ông bà và con cháu đều thuộc về nhà ấy, không ai bị
loại trừ. Nếu có người gặp khó khăn, kể cả khó khăn nghiêm
trọng, mặc dù do chính người ấy gây ra, thì những người khác
trong gia đình sẽ đến trợ giúp và nâng đỡ người ấy; nỗi đau của
người ấy được cả gia đình chia sẻ... Trong các gia đình, mọi
người cùng góp phần vào kế hoạch chung; mọi người đều làm
việc cho thiện ích chung mà không triệt tiêu nét riêng của từng
người, trái lại còn ủng hộ và khuyến khích nữa. Họ có thể cãi
nhau, nhưng vẫn có điều gì đó không thay đổi: đó là mối dây
ràng buộc gia đình. Những cãi vã trong gia đình rồi cũng sẽ
được hòa giải. Niềm vui nỗi buồn của mỗi người được cả nhà
chia sẻ. Gia đình là thế! Ước gì chúng ta có thể nhìn đối thủ
trong lĩnh vực chính trị hay người hàng xóm giống như chúng ta
nhìn con cái hay vợ chồng, cha mẹ của mình! Như thế sẽ tốt
đẹp biết bao! Chúng ta có yêu mến xã hội hay không, hay xã hội
vẫn là một cái gì đó xa vời, vô danh, không liên quan đến chúng
ta, không ràng buộc chúng ta?”[215].
231. Thông thường, rất cần đàm phán và thông qua đó để khai
triển các tiến trình cụ thể nhằm đạt được hòa bình. Tuy nhiên,
các tiến trình hiệu quả dẫn đến nền hòa bình bền vững trước
hết là những thay đổi được các dân tộc kiến tạo nên; trong đó
mỗi cá nhân có thể trở thành nắm men hữu hiệu qua cách sống
hằng ngày của mình. Những thay đổi lớn lao không xuất hiện
trên các bàn giấy hay trong các văn phòng. Vì thế, “mỗi người
đều đóng một vai trò nền tảng trong một dự án duy nhất đầytính sáng tạo, đó là viết nên trang sử mới, tràn trề hy vọng, hòa
bình và hòa giải”[216]. Có một phương thức kiến tạo hoà bình
theo “khoa kiến trúc”, trong đó các định chế xã hội khác nhau
đều góp phần theo lãnh vực chuyên môn của mình, nhưng cũng
có một lối xây dựng hòa bình theo “kiểu thủ công”, liên quan
đến tất cả chúng ta. Từ các tiến trình hòa bình đã diễn ra tại
nhiều nơi trên thế giới, “chúng ta đã học được rằng trên những
lối đường kiến tạo hòa bình ấy, cần có sự hòa giải, cần đặt lý trí
trên hận thù, cần có sự kết hợp hài hòa tinh tế giữa chính trị và
luật pháp, đồng thời không được bỏ qua sự tham gia của người
dân. Hòa bình không đạt được bằng việc soạn ra những khuôn
khổ pháp lý và bằng những dàn xếp mang tính cơ chế giữa các
nhóm chính trị hay kinh tế có thiện chí... Hơn nữa, việc bổ sung
vào các tiến trình hòa bình những kinh nghiệm của các thành
phần, mà thông thường chẳng được ai biết đến sẽ luôn là hữu
ích, để chính các cộng đồng ấy sẽ tác động đến ký ức cộng
đồng”[217].
232. Việc xây dựng hòa bình xã hội trong một quốc gia chẳng
bao giờ hoàn tất, nhưng là “một nhiệm vụ trường kỳ đòi hỏi mọi
người phải tham gia. Nhiệm vụ này buộc chúng ta không ngừng
nỗ lực xây dựng tình đoàn kết quốc gia, bất chấp những trở
ngại, những khác biệt và những quan điểm khác nhau về cách
thức đi đến chung sống hòa bình, cách thức kiên trì đấu tranh
nhằm thúc đẩy nền văn hóa gặp gỡ. Nền văn hóa ấy đòi hỏi
chúng ta phải đặt con người cùng với phẩm giá cao quý và việc
tôn trọng công ích ở trung tâm của mọi hoạt động chính trị, xã
hội và kinh tế. Mong sao nỗ lực này giúp chúng ta thoát khỏi
mọi cám dỗ trả thù và tìm kiếm những lợi ích phe nhóm nhất
thời”[218]. Những cuộc biểu tình bạo động, của phía bên này
hay bên kia, chẳng giúp tìm ra được giải pháp; đặc biệt bởi vì,
như các mục Colombia đã nhấn mạnh, khi kêu gọi người dân
biểu tình, “các điểm xuất phát và mục tiêu của các cuộc biểu
tình ấy không phải lúc nào cũng rõ ràng; có những kiểu thao
túng chính trị, và từ đó cho thấy có những tranh giành lợi ích
phe nhóm”[219].Bắt đầu với những người thấp kém nhất
233. Việc thúc đẩy tình thân ái xã hội không chỉ liên quan đến
chuyện xích lại gần nhau giữa các nhóm đã phân rẽ sau giai
đoạn xung đột trong lịch sử, nhưng cả những người thuộc thành
phần nghèo khổ và dễ tổn thương nhất của xã hội cũng cần tìm
gặp lại nhau. “Hòa bình không chỉ là vắng bóng chiến tranh,
nhưng là sự dấn thân không mệt mỏi - đặc biệt là về phần
chúng ta là những người có trách nhiệm lớn hơn - trong việc
nhìn nhận, bảo đảm và phục hồi một cách cụ thể phẩm giá của
các anh chị em chúng ta, vốn thường bị lãng quên hay coi nhẹ,
để họ có thể cảm nhận được họ là những nhân vật chính yếu
nắm giữ vận mệnh đất nước mình”[220].
234. Thông thường, những người thấp kém trong xã hội là nạn
nhân của những khái quát hóa đầy bất công. Nếu đôi khi người
nghèo và người bị loại trừ phản ứng bằng những thái độ xem ra
chống lại xã hội, chúng ta cần phải hiểu rằng trong nhiều trường
hợp những phản ứng ấy phát xuất từ một lịch sử trong đó họ bị
xã hội khinh miệt và loại trừ. Các giám mục châu Mỹ La tinh đã
nói rằng “chỉ bằng cách gần gũi với người nghèo chúng ta mới
trở thành bạn hữu của họ, mới biết trân trọng cách sâu xa các
giá trị họ đang có, các khao khát chính đáng của họ, và cách
sống đức tin đặc thù của họ. Việc chọn lựa người nghèo phải
đưa chúng ta đến chỗ làm bạn với người nghèo”[221].
235. Những người có ý mang lại niềm an hòa cho xã hội không
được quên rằng tình trạng bất bình đẳng và thiếu phát triển
nhân bản toàn diện không giúp cho việc cổ võ hòa bình. Quả
vậy, “nếu không có các cơ hội bình đẳng thì sớm hay muộn các
hình thức gây hấn và xung đột cũng sẽ tìm được mảnh đất mầu
mỡ để bùng phát. Một khi xã hội - địa phương, quốc gia hay thế
giới - muốn gạt ra bên lề một phần của chính mình, thì không có
chương trình chính trị nào, không có lực lượng an ninh hay
giám sát nào có thể bảo đảm được an bình vĩnh viễn”[222]. Nếu
cần phải bắt đầu lại, thì phải luôn luôn bắt đầu từ những người
thấp kém nhất.GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA CỦA THA THỨ
236. Có những người không thích nói về hòa giải, bởi vì họ cho
rằng xung đột, bạo lực và đổ vỡ thuộc quá trình vận hành bình
thường của xã hội. Trên thực tế, trong bất cứ nhóm người nào,
giữa các phe phái, ít nhiều gì, đều luôn có tranh chấp quyền lực.
Có những người lại khẳng định rằng tha thứ là từ bỏ chỗ đứng
của mình để nhường cho người khác kiểm soát. Vì thế, họ cho
rằng tốt hơn là cứ tiếp tục trò chơi quyền lực để duy trì sự cân
bằng lực lượng giữa các nhóm. Những người khác thì tin rằng
hòa giải là chuyện của kẻ yếu, vì không có khả năng đối thoại
nghiêm túc nên chọn cách tránh né vấn đề, che đậy các bất
công, nghĩa là, khi không thể đương đầu với các vấn đề, họ
chọn thứ hòa bình hình thức.
Xung đột không thể tránh
237. Trong Kitô giáo, tha thứ và hòa giải là hai chủ đề trọng tâm,
và theo nhiều cách khác, trong các tôn giáo khác cũng có hai
chủ đề này. Tuy nhiên, có nguy cơ là các xác tín không được
hiểu và trình bày đúng để rồi cuối cùng dung dưỡng thuyết định
mệnh, thói vô cảm và bất công, hay thậm chí bất khoan dung và
bạo lực.
238. Chúa Giêsu không bao giờ cổ võ thái độ bạo lực và bất
khoan dung. Người công khai lên án việc sử dụng sức mạnh để
bắt người khác phải phục tùng: “Anh em biết, thủ lãnh các dân
thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền
mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy”
(Mt 20,25-26). Trái lại, Phúc âm đòi chúng ta phải tha thứ “bảy
mươi lần bảy” (Mt 18,22) và kể một ví dụ về người đầy tớ độc
ác được tha thứ nhưng lại không biết tha thứ cho kẻ khác
(x. Mt 18,23-35).
239. Khi đọc các bản văn khác của Tân Ước, chúng ta có thể
nhận thấy các cộng đoàn Kitô hữu sơ khai đã tỏ ra kiên nhẫn,
bao dung và cảm thông như thế nào khi sống trong thế giới dân
ngoại đồi bại và lầm lạc. Một số bản văn nói rất rõ về khía cạnh
này: chúng ta được dạy phải đáp lại những kẻ chống đối mình“với sự hiền hòa” (2 Tm 2,25) và được khuyến khích “không nói
xấu ai, tránh cãi vã, cư xử hiền hòa, luôn luôn tỏ lòng nhân từ
với mọi người. Vì chính chúng ta đã từng ngu xuẩn” (Tt 3,2-3).
Sách Công vụ Tông đồ ghi nhận rằng các môn đệ, dù bị một số
nhà cầm quyền bách hại, “đã được toàn dân thương mến” (2,47;
x. 4,21.33; 5,13).
240. Tuy nhiên, khi suy tư về sự tha thứ, hòa bình, và hòa hợp
xã hội, chúng ta cũng gặp lời khẳng định của Chúa Giêsu Kitô
khiến chúng ta kinh ngạc: “Các con chớ tưởng rằng Thầy đến
để mang hòa bình cho thế gian: Thầy không đến để đem hòa
bình, nhưng đem gươm giáo. Vì chưng, Thầy đến để gây chia
rẽ con trai với cha mình, con gái với mẹ mình, nàng dâu với mẹ
chồng mình: và thù địch của người ta lại là chính người nhà
mình.” (Mt 10,34-36). Cần phải đặt những lời này trong ngữ
cảnh của đoạn văn, ở đó chủ đề đang được nói đến rõ ràng là
sự trung tín với một lựa chọn, không hổ thẹn, dù có những trái ý,
và thậm chí dù những người thân yêu phản đối lựa chọn ấy. Vì
thế, lời Chúa Kitô không khuyến khích chúng ta tìm kiếm xung
đột, nhưng chỉ là chấp nhận cuộc xung đột không tránh được,
để việc tôn trọng người khác nhằm giữ được điều được gọi là
bình an trong gia đình hay xã hội sẽ không làm chúng ta đánh
mất lòng trung tín. Thánh Gioan Phaolô II nhận định rằng đối
với Giáo hội “không phải tất cả và bất kể hình thức xung đột xã
hội nào cũng bị lên án. Giáo hội nhận thức rõ ràng rằng trong
dòng lịch sử, những xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội khác
nhau đã xảy ra, không thể tránh được, và rằng người Kitô hữu
thường phải có một lập trường quả quyết và nhất quán về
những xung đột này”[223].
Đấu tranh chính đáng và sự tha thứ
241. Đề nghị tha thứ ở đây không có nghĩa là đề nghị từ bỏ
quyền lợi của bản thân để một quan chức tham nhũng, một kẻ
tội phạm hay ai đó xúc phạm phẩm giá của mình. Chúng ta
được kêu gọi yêu thương mọi người, không trừ ai. Nhưng yêu
thương một kẻ áp bức không có nghĩa là chấp nhận cho kẻ ấy
tiếp tục áp bức mình, cũng không phải là khiến cho kẻ ấy tưởngrằng hành động của y là có thể chấp nhận được. Trái lại, yêu
thương kẻ áp bức một cách đúng nghĩa là phải làm sao cho kẻ
ấy chấm dứt hành vi áp bức, là tước bỏ quyền lực mà kẻ ấy đã
không biết cách sử dụng và làm cho nhân tính của y ra méo mó.
Tha thứ không có nghĩa là để cho những kẻ áp bức tiếp tục chà
đạp phẩm giá của chính họ và người khác, hay để cho kẻ tội
phạm cứ làm điều sai trái. Người đã gánh chịu bất công phải
cương quyết bảo vệ các quyền lợi của mình và gia đình mình,
chính vì họ phải bảo vệ phẩm giá đã được Thiên Chúa yêu
thương ban tặng. Nếu có kẻ gian ác đã làm hại tôi hay người
thân yêu của tôi, thì không ai có thể cấm tôi đòi lại công lý và nỗ
lực hết sức để bảo đảm rằng kẻ ấy, hay bất kỳ ai khác, sẽ
không còn làm hại tôi hay người khác nữa. Đó là quyền của tôi,
sự tha thứ không phủ nhận quyền này mà còn đòi phải làm như
thế.
242. Điều quan trọng khi làm như thế không phải là để nung
nấu cơn giận, vì oán giận sẽ làm tổn hại tâm hồn chúng ta và
tâm hồn người khác, cũng không phải là để thỏa mãn ước
muốn tiêu diệt người khác, vì ước muốn này sẽ kích động vòng
báo oán không cùng. Chẳng ai có được bình an nội tâm hay có
được cuộc sống bình thường bằng cách ấy. Sự thật là “không
có gia đình nào, không có nhóm người thân cận nào hay nhóm
sắc tộc nào, càng không có quốc gia nào có được tương lai nếu
động lực liên kết, quy tụ và xóa mờ các khác biệt của họ lại là
báo thù và oán hận. Chúng ta không được đồng lòng và liên kết
với nhau để trả thù, để đáp trả tương tự với kẻ đã dùng bạo lực
với chúng ta, để sắp đặt cơ hội trả thù dưới những hình thức
hợp pháp bề ngoài”[224]. Như thế chúng ta chẳng được gì, mà
cuối cùng lại mất tất cả.
243. Chắc chắn “không dễ dàng gì vượt qua hậu quả cay đắng
của những bất công, hận thù và nghi ngờ do cuộc xung đột để
lại. Người ta chỉ có thể thực hiện điều đó bằng cách dùng sự
thiện mà chế ngự sự dữ (x. Rm 12,21) và bằng cách vun trồng
những nhân đức nuôi dưỡng sự hòa giải, liên đới và hòa
bình”[225]. Bằng cách này, sự thiện sẽ mang lại cho ngườihành thiện một tâm hồn thanh thản, một niềm vui sâu xa, cả khi
gặp khó khăn và hiểu lầm. Thậm chí, ngay cả khi bị sỉ nhục, sự
thiện không hề là yếu đuối, mà là sức mạnh thực sự, có khả
năng khước từ trả thù”[226]